nghiên cứu khoa học về đồng tính
Thành Long. 35 đề tài nghiên cứu khoa học ứng dụng mang tính thực tiễn xã hội. Đây cũng chính là những giải pháp dưới góc nhìn sinh viên cho các vấn đề gần gũi đời sống. Cuộc thi sinh viên nghiên cứu khoa học Đại học Đông Á là chương trình thường niên lần thứ 8
1. Tính mới trong nghiên cứu khoa học. Tính mới, tính độc đáo và tính tiên phong là ba khái niệm quan trọng liên quan đến xuất. bản khoa học (Morgan 1985, 2), trong đó tính mới là một khía cạnh quan trọng của bất kỳ. nghiên cứu nào, đặc biệt là trong thời hiện đại. Tính
Khi các kết quả của nghiên cứu khoa học về sự xuất hiện của hiện tượng đồng tính còn chưa có câu trả lời chính thức, nhưng cũng là cơ sở để chúng ta biết rằng đồng tính không như mọi người vẫn nghĩ là bệnh hoạn, là đua đòi, là tệ nạn xã hội, tình dục là
Ngày 10 tháng 10 năm 2021, nhóm nghiên cứu mạnh Kinh tế và Quản lý Tài nguyên Môi trường, Khoa Kinh tế và PTNT đã tổ chức seminar với chủ đề “Sản xuất lúa giảm phát thải khí nhà kính – Bài học kinh nghiệm từ tỉnh Thái Bình”. Đây là một chủ đề mang tính thời sự, đặc biệt trong bối cảnh Chính phủ Việt
người đồng tính trong cộng đồng và phần lớn sinh viên không biết về vấn đề. này (45%); tỷ lệ sinh viên chọn phương án ‘trên 2%’ cũng khá cao (31.7%) và. chỉ có 15.7% sinh viên lựa cho rằng người đồng tính chiếm ‘khoảng 1 đến. 2%’ dân số nước ta (phương án gần
Ich Möchte Gerne Einen Mann Kennenlernen. 1 Văn vở hơi kém nên trình bày nội dung chính thôi nhé. Phần này chỉ nói về xu hướng tình dục của nam giới vì qua khảo sát cho thấy trên 80% phụ nữ song tính hoặc đồng tính Xu hướng tình dục của đàn ông chia làm 4 dạng Thẳng loại này là nhiều nhất và tất cả dạng này đều kỳ thị đồng tính. Song tính dạng này nhiều thứ 2. Có nhiều người tưởng mình thẳng nhưng thực tế họ thích cả 2 giới. Nếu bạn là trai nhưng gặp trai đẹp cũng xao xuyến thì nhiều khả năng bạn song tính. Loại này có thể bị lây nếu ở cùng người đồng tính Đồng tính Đơn tính không có cảm hứng tình dục - 2 Trước tôi đọc bộ Hellblazer bên DC có nhân vật chính Constantine là ng song tính thì phải. 3 Văn vở hơi kém nên trình bày nội dung chính thôi nhé. Phần này chỉ nói về xu hướng tình dục của nam giới vì qua khảo sát cho thấy trên 80% phụ nữ song tính hoặc đồng tính Xu hướng tình dục của đàn ông chia làm 4 dạng Thẳng loại này là nhiều nhất và tất cả dạng này đều kỳ thị đồng tính. Song tính dạng này nhiều thứ 2. Có nhiều người tưởng mình thẳng nhưng thực tế họ thích cả 2 giới. Nếu bạn là trai nhưng gặp trai đẹp cũng xao xuyến thì nhiều khả năng bạn song tính. Loại này có thể bị lây nếu ở cùng người đồng tính Đồng tính Đơn tính không có cảm hứng tình dục - Tài liệu đâu? 4 Trước tôi đọc bộ Hellblazer bên DC có nhân vật chính Constantine là ng song tính thì phải. Dc nhiều char song tính lắm 5 Toi đ biêt nhưng 99% vozers toi đả gặp ỡ SG đều chữi đồng tinh trên mang nhưng thich dooddeed ngoài đơi. Nòai người co xu hướng nói nhiều vê những cai minh quan tâm mà. 6 Dc nhiều char song tính lắm Nhưng được mỗi anh này ngầu nhất. Đi xuống địa ngục lừa gạt ác quỷ như đi chợ. 7 vì qua khảo sát cho thấy trên 80% phụ nữ song tính hoặc đồng tính Cho mình xin nguồn số liệu về khảo sát này 8 Tôi nghĩ nên nghiên cứu khoa học cách diệt trừ bọn đồng tính 9 Thằng trong avata 1 không bê đê thì cứ chặt cu tủ lạnh đi 11 Văn vở hơi kém nên trình bày nội dung chính thôi nhé. Phần này chỉ nói về xu hướng tình dục của nam giới vì qua khảo sát cho thấy trên 80% phụ nữ song tính hoặc đồng tính Xu hướng tình dục của đàn ông chia làm 4 dạng Thẳng loại này là nhiều nhất và tất cả dạng này đều kỳ thị đồng tính. Song tính dạng này nhiều thứ 2. Có nhiều người tưởng mình thẳng nhưng thực tế họ thích cả 2 giới. Nếu bạn là trai nhưng gặp trai đẹp cũng xao xuyến thì nhiều khả năng bạn song tính. Loại này có thể bị lây nếu ở cùng người đồng tính Đồng tính Đơn tính không có cảm hứng tình dục - Đâu nghiên cứu khoa học đâu? Có thấy nguồn chỗ nào đâu? 12 tôi thì là loại "cục tính'' khi gặp mấy thằng "bóng chó'' đồng tính ko nói tới GAY lịch sự . 13 Toi đ biêt nhưng 99% vozers toi đả gặp ỡ SG đều chữi đồng tinh trên mang nhưng thich dooddeed ngoài đơi. Nòai người co xu hướng nói nhiều vê những cai minh quan tâm mà. Coi bộ thầy cũng có xu hướng thích gặp vozers ngoài đời quá ha... 14 Văn vở hơi kém nên trình bày nội dung chính thôi nhé. Phần này chỉ nói về xu hướng tình dục của nam giới vì qua khảo sát cho thấy trên 80% phụ nữ song tính hoặc đồng tính Xu hướng tình dục của đàn ông chia làm 4 dạng Thẳng loại này là nhiều nhất và tất cả dạng này đều kỳ thị đồng tính. Song tính dạng này nhiều thứ 2. Có nhiều người tưởng mình thẳng nhưng thực tế họ thích cả 2 giới. Nếu bạn là trai nhưng gặp trai đẹp cũng xao xuyến thì nhiều khả năng bạn song tính. Loại này có thể bị lây nếu ở cùng người đồng tính Đồng tính Đơn tính không có cảm hứng tình dục - Nguồn đâu và phải định nghĩa lại khái niệm thích khái niệm thích trong giới tính nó phải liên quan đến nhu cầu sinh lí có nghĩa là thích ịt vì vậy người song tính có nghĩa là người thích ịt cả nam và nữ nếu có nghiên cứu nào chỉ ra 80% phụ nữ thích ịt cả nam lẫn nữ thì chỉ ra còn khái niệm thích bình thường được hiểu theo nghĩa chiến hữu bạn nhậu hay chị em bạn gì cái đó thì bình thường vãi như cân đường hộp sữa tôi đây thích ịt vài phụ nữ và thích chơi bời nhậu nhẹt với cả đống đàn ông nhưng điều đó éo có nghĩa là tôi song tính thằng nào gạ ịt tôi tôi đánh nó phù mỏ 15 tôi thì là loại "cục tính'' khi gặp mấy thằng "bóng chó'' đồng tính ko nói tới GAY lịch sự . Thế thì bác cũng thuộc tập hợp "bóng chó" rồi, tại cùng vế thì mới hay ghét nhau. 16 Thế thì bác cũng thuộc tập hợp "bóng chó" rồi, tại cùng vế thì mới hay ghét nhau. tránh xa tao ra cái loại "súc vật bóng chó tởm lợm hạ đẳng'' chúng mày... cái thứ dơ bẩn, làm ô uế nhân loại. 17 Đồng tính là bệnh, chấm hết Sent from Xiaomi Mi Note 10 Lite via nextVOZ
Ngày đăng 03/04/2013, 1833 DÀN Ý BÀI TIỂU LUẬN Nội dung Trang A. ĐẶT VẤN ĐỀ. 2 B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. 2 1. Định nghĩa về đồng tính luyến ái và hôn nhân đồng giới. 2 2. Số liệu thống kê tỷ lệ người đồng tính. 3 Việt Nam. 3 Thế giới. 4 3. Pháp luật và dư luận Việt Nam về vấn đề này. 4 Pháp luật Việt Nam hiện hành. 4 Quan điểm của dư luận xã hội. 5 Quan điểm từ những người nghiên cứu. 5 4. Các luận điểm về việc không tán thành sự cần thiết phải ghi nhận kết hôn đồng giới trong Luật hôn nhân và gia đình. 6 Cái nhìn từ góc độ chính trị, nhân quyền. 6 Cái nhìn từ góc độ xã hội. 6 Cái nhìn từ góc độ tâm lý học. 7 Cái nhìn từ góc độ tôn giáo – truyền thống. 7 Cái nhìn từ góc độ y học. 9 5. Pháp luật của những quốc gia và dư luận xã hội trên thế giới chưa tán thành kết hôn đồng giới. 10 C. KẾT LUẬN VẤN ĐỀ. 11 1 D. DANH MỤC TƯ LIỆU THAM KHẢO. 12 A. ĐẶT VẤN ĐỀ. Hôn nhân đồng giới đang là một vấn đề được tranh luận rất sôi nổi trên thế giới hiện nay. Hiện tại, tính đến thời điểm này, có hơn 10 quốc gia trên thế giới đã công nhận kết hôn đồng giới trong Luật Hà Lan, Bỉ, Tây Ban Nha, Canada, Nam Phi, Na Uy, Thuỵ Điển, Bồ Đào Nha, Iceland, Argentina. Ngoài 10 nước đã liệt kê trên còn có năm tiểu bang ở Hoa Kỳ Massachusetts, Iowa, Connecticut, Vermont, New Hampshire, thủ đô Washington cùng với thủ đô Mexico Thành phố Mexico cũng cho phép hôn nhân đồng giới. Tại thời điểm này ở Việt Nam, các nhà làm luật, nhà nghiên cứu, nhà hoạt động xã hội, bác sĩ, luật sư… đang lên tiếng tranh luận và đưa ra những ý kiến để ủng hộ việc công nhận kết hôn đồng giới trong Luật hôn nhân và gia đình. Nhưng liệu việc quá vội vàng công nhận việc kết hôn đồng giới đã là một giải pháp an toàn và tốt nhất cho vấn đề tại thời điểm hiện tại hay chưa? Theo quan điểm của tôi, thì chúng ta không nên vội vàng công nhận kết hôn đồng giới trong Luật. Chúng ta nên xem xét và nghiên cứu vấn đề hôn nhân đồng giới một cách tổng thể, dưới nhiều góc độ khác nhau rồi mới quyết định công nhận hôn nhân đồng giới ở một thời điểm thích hợp trong tương lai xa. Việt công nhận kết hôn đồng giới trong Luật vội vàng sẽ khiến chúng ta không thể lường trước được những hậu quả phát sinh và kéo theo của nó, cũng như những tác động tiêu cực mà nó mang lại cho các thế hệ tương lai. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. 2 1. Định nghĩa về đồng tính luyến ái và hôn nhân đồng giới. - Đồng tính luyến ái được nói một cách khiếm nhã là Pê-đê từ tiếng Pháp pédé, hay Gay từ tiếng Anh, thường dùng cho phái nam và Lesbian dùng cho phái nữ, là việc yêu đương hay mối quan hệ tình dục giữa những người đồng giới tính với nhau. Khái niệm này khác với khái niệm ái nam ái nữ, bán nam bán nữ, hay giới tính thứ ba. Đồng tính luyến ái không phải là một giới tính, mà là một trong những thiên hướng tính dục sexual orientation. - Hôn nhân đồng giới là cuộc hôn nhân của hai người có cùng giới tính sinh học. Qua các nghiên cứu, nhiều nhà khoa học đã chứng minh, xu hướng tình dục đồng tính đã tồn tại hàng ngàn năm nay như một điều hiển nhiên không thể khác. Đồng tính là xu hướng tình dục, xu hướng tình yêu, bị chi phối bởi tâm lý và cấu tạo sinh lý của cơ thể con người mà họ không thể lựa chọn khác được, chứ không đơn giản là sự lệch lạc về tâm lý, là sự học đòi, sự a dua. Người đồng tính cũng như những người bình thường khác về mặt thể chất, tinh thần, chỉ khác về xu hướng tình dục. Nhiều nhà khoa học cũng cho rằng, thực tế không phải chỉ có hai giới như chúng ta vẫn thường biết, mà là ba giới. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng phải thừa nhận ngoài những người đồng tính “tự nhiên”, còn có không ít trường hợp đồng tính do sự lệch lạc về quan hệ tình dục. Đó là những bạn trẻ có cuộc sống ăn chơi trác táng và có những quan niệm lệch lạc về tình dục đồng giới do ảnh hưởng văn hoá phẩm phẩm đồi trụy, không lành mạnh. Đây được xem như là một tệ nạn của xã hội. Vậy, pháp luật có nên thừa nhận hôn nhân đồng tính là hôn nhân hợp pháp? Nếu thừa nhận, chúng ta sẽ 3 phải sửa đổi một loạt các qui định hiện hành như Bộ luật dân sự, Luật Hôn nhân gia đình… để điều chỉnh hàng loạt vấn đề kéo theo quan hệ “hôn nhân” này như con cái con nuôi, hoặc con đẻ của một người nếu cặp đôi đồng tính là nữ, tài sản, quyền và nghĩa vụ “vợ, chồng”, thừa kế… Hiệp Hội Các Nhà Tâm Thần Học vào năm 1973, năm 1975 Hiệp Hội Các Nhà Tâm Lý Học Hoa Kỳ cũng đã loại khỏi danh sách tâm bệnh những suy nghĩ và hành động đồng tính. Tóm lại từ sau năm 1975 cả tâm thần học và tâm lý học không còn xếp quan niệm và hành động đồng tính trong danh sách những hội chứng tâm bệnh hay tâm lý nữa. Sau cùng năm 1990, Cơ Quan Y Tế Thế Giới cũng công nhận rằng đồng tính không phải là “bệnh”. Và gần đây nhất năm 2001, Hiệp Hội Các Nhà Tâm Thần Học Trung Hoa cũng đã loại bỏ đồng tính khỏi danh sách tâm bệnh. 2. Số liệu thống kê tỷ lệ người đồng tính. Việt Nam. - Một cuộc thăm dò của trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007 tiến hành trên 300 học sinh của ba trường Trung học Cơ sở và Trung học Phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy 42% học sinh cho rằng 1% học sinh trong trường mình là đồng tính, 2% học sinh cho rằng tỉ lệ này là 5%, 8% học sinh cho rằng 10%, còn 25% học sinh còn lại cho rằng nhiều hơn nữa. - Các tổ chức khác nhau đưa ra dự đoán hoặc ước tính số người đồng tính khác nhau. Theo một báo cáo được công bố tại hội nghị khoa học kỹ thuật do Bệnh viện Da liễu thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào ngày 26/9/2006, chưa có những số liệu chắc chắn về số lượng đồng tính nam ở Việt Nam. Tuy vậy, theo một nghiên cứu của bác sĩ Trần Bồng Sơn, số đồng tính nam ước tính là khoảng 4 người. Nhưng theo một nghiên cứu khác do tổ chức phi chính phủ CARE thực hiện tại Việt Nam, con số này lại vào khoảng người. 1 - Việc thống kê một cách đầy đủ và rộng khắp để đưa ra những số liệu đúng đắn về người đồng tính ở Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong hoạch định chính sách đối với người đồng tính cũng như tác động đối với xã hội nói chung. Tuy nhiên, việc thống kê này có nhiều khó khăn như sự khác nhau trong định nghĩa đồng tính luyến ái, sự không công khai của người đồng tính và sự không quan tâm đầy đủ của chính quyền và xã hội. Thế giới. Tỉ lệ người hoàn toàn đồng tính trong dân chúng trên thế giới là từ > 1% đến 10%, đồng tính nam nhiều hơn đồng tính nữ. Các số liệu thay đổi tùy quốc gia. Một nghiên cứu 1992 cho thấy nam giới ở Vương quốc Anh từng có quan hệ đồng tính, trong khi ở Pháp là Theo một thống kê 2003, 12% người Na Uy từng quan hệ tình dục đồng giới. Trong một cuộc thăm dò 2008, trong khi chỉ có 6% người Anh tự nhận là đồng tính hoặc song tính, 13% người Anh đã từng quan hệ tình dục với người cùng giới. Ở Mỹ, cuộc thăm dò ngày 4 tháng 11 năm 2008 trong cuộc bầu cử Tổng thống cho thấy tỉ lệ người tự nhận là đồng tính hoặc song tính là 4%. 2 3. Pháp luật và dư luận Việt Nam về vấn đề này. Pháp luật Việt Nam hiện hành. 1 Số liệu từ Viện Nghiên cứu xã hội kinh tế và môi trường web 2 Số liệu từ 5 - Theo Khoản 2, Điều 8 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 quy định "Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn". - Khoản 5 Điều 10 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 còn quy định "nghiêm cấm việc kết hôn giữa những người cùng giới tính". Do đó, khi những cặp đồng tính tổ chức đám cưới và chung sống với nhau như vợ chồng là vi phạm pháp luật Việt Nam. Quan điểm của dư luận xã hội. Cuối năm 2010, cư dân mạng từng “sốt xình xịch” vì đám cưới của hai cô gái trẻ. Và vài ngày nay, người ta lại bàn luận không ngớt trước sự kiện nhiều trang mạng đưa tin đám cưới đồng tính công khai thứ hai ở Việt Nam. Lần này “cô dâu, chú rể” cùng là nam! Nhiều tờ báo đưa tin đám cưới của cặp đôi này được tổ chức hoành tráng tại tòa nhà sự kiện Forever đường Nguyễn Thông, TP HCM. Hàng loạt các bức ảnh được đăng tải cho thấy, hai “nhân vật chính” trông rạng ngời hạnh phúc và thỉnh thoảng lại dành cho nhau những cử chỉ âu yếm, thân mật. Đám cưới cũng được bắt đầu với màn cắt bánh gato, rót rượu… khá trang trọng. Có thể nói, dưới con mắt của phần lớn người Việt Nam, nhất là những người lớn tuổi, hôn nhân đồng giới là sự “kỳ dị”, không bình thường và khó chấp nhận. Đám cưới này dù được cả gia đình hai bên ủng hộ, dù “xuất phát từ tình yêu chân thành” của “cô dâu”, “chú rể”, nhưng vẫn là hành động “không bình thường”, khác với phong tục tập quán lâu nay. Đấy là chưa nói đến khía cạnh pháp luật, kết hôn đồng giới chưa được thừa nhận và hai “cặp đôi” này chưa được pháp luật Việt Nam công nhận là vợ chồng, vì họ không thể đăng ký kết hôn. 6 Nhưng, bên cạnh đó, lại có khá nhiều ý kiến, nhất là giới trẻ, bày tỏ sự cảm thông, kể cả thán phục và ngưỡng mộ, cho đây là hành động “dũng cảm”, dám công khai sống thật với giới tính của hai cặp đôi trên và cho rằng, xã hội phải có cái nhìn thay đổi cho phù hợp với thực tế. Những người đấu tranh vì hôn nhân đồng tính cũng khẳng định, các cặp đôi đồng tính có một đời sống vô cùng bình thường. “Đời sống vợ chồng” của họ không gây ảnh hưởng gì đến xã hội. Nếu cấm họ kết hôn với nhau, nghĩa là đã vô tình làm ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. Quan điểm từ những người nghiên cứu. Trong bài trả lời phỏng vấn một tờ báo, Nguyễn Minh Thuyết 3 cho rằng, những người đồng tính nam và đồng tính nữ, họ là giới thứ ba, xã hội buộc phải thừa nhận. GS Thuyết cũng đưa ra quan điểm Những người đồng tính đi tới chung sống với nhau là “chuyện mà pháp luật nên thừa nhận và sớm thừa nhận để có những ràng buộc về mặt pháp lý,đảm bảo quyền lợi cho những đôi bạn trẻ cũng như tất cả những người xung quanh”. Luật sư Trịnh Anh Dũng – Trưởng Văn phòng luật sư Trịnh, Đoàn Luật sư Hà Nội cho rằng “Vấn đề hôn nhân đồng giới là một vấn đề tương đối nhạy cảm, từ trước đến nay, cả trên thế giới và tại Việt Nam đều có nhiều luồng quan điểm khác nhau và được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau như đạo đức, tôn giáo, pháp luật, y học… Dưới góc độ pháp luật, tất cả các bản Hiến pháp của Việt Nam đã qui định tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa và gia đình. Đối chiếu với các quy định và tinh thần của pháp luật nêu trên, tôi cho rằng, quyền yêu và được yêu, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền bình đẳng về xã hội và gia đình của người đồng giới cần được pháp luật tôn trọng và bảo vệ”. 3 Đại biểu Quốc hội Việt Nam các khóa XI, XII của Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lạng Sơn. 7 4. Các luận điểm về việc không tán thành sự cần thiết phải ghi nhận kết hôn đồng giới trong Luật hôn nhân và gia đình. Cái nhìn góc độ chính trị, nhân quyền. Những trường phái ủng hộ việc kết hôn đồng giới, họ đều có xu hướng đưa quan điểm nhân quyền ra để lập luận “Con người sinh ra đều có quyền bình đẳng như nhau, đều có quyền mưu cầu hạnh phúc”. Họ dựa vào nhân quyền để cho rằng những người đồng tính luyến ái cũng phải được có quyền được kết đôi với những người như mình và được xã hội, nhà nước và pháp luật chấp nhận. Nhưng nhân quyền cũng cần phải được đặt trong tổng thể các lợi ích của xã hội, các mối quan hệ và lợi ích của các thệ hệ tương lai. Nhưng những quan điểm như thế là chưa đủ sức thuyết phục, việc chấp nhận kết hôn đồng giới là một vấn đề rất quan trọng và nhạy cảm, điều này liên quan không chỉ đối với những chủ thể được hưởng quyền đó, mà còn có tác động to lớn đến các xu hướng trong xã hội và các thệ hệ tương lai của nhân loại. Nếu chúng ta chấp nhận hôn nhân đồng giới một cách vội vã, liệu điều đó có tốt ko? Chúng ta không nên làm như vậy, mà hãy nên xem xét và đưa ra những kế hoạch, chính sách phù hợp đối với những nhóm người đồng tính trong xã hội trước. Điều này sẽ tạo tiền đề để dư luận xã hội có cái nhìn cởi mở hơn về vấn đề này. Cái nhìn từ góc độ xã hội. Nếu chấp nhận hôn nhân đồng giới, thì chúng ta sẽ phải định nghĩa lại hôn nhân là gì? Mục đích của hôn nhân? chức năng của hôn nhân? Gia đình đồng giới sẽ được hiểu như thế nào? Ai là vợ, ai là chồng? Nhưng nếu những cuộc hôn nhân đồng giới chỉ giới hạn trong thiểu số của xã hội, thì sẽ không phải là vấn đề quá lớn để chúng ta phải lo lắng. Nhưng việc chấp nhận hôn nhân đồng giới quá vội vàng khi mà chúng ta chưa có những chính 8 sách, kế hoạch phù hợp, điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến xã hội. Xu hướng những cặp đồng tính trong xã hội đang ngày một tăng có thể do lý do sinh lý, xã hội, tâm lý, trào lưu… thì việc chấp nhận hôn nhân đồng giới một cách vội vã sẽ dẫn đến những hậu quả tiêu cực các thế hệ tương lai sẽ ra sao, những đứa con trưởng thành trong những gia đình phụ huynh đồng tính sẽ bị ảnh hưởng thế nào, xu hướng xã hội về vấn đề này sẽ tiến triển đến đâu… Cái nhìn từ góc độ tâm lý học. - Nguy cơ "hôn nhân" không bền vững là lớn. Xã hội nên có những cái nhìn thẳng thắn; nếu là trào lưu thì nên định hướng, đừng a dua theo. Với những người thực sự bị đồng tính thì họ cũng có những khó khăn riêng của mình, khó hoà nhập với cuộc sống chung của cộng đồng. Khó khăn lớn nhất mà các cặp đôi đồng tính phải đối mặt là dư luận. Nếu họ biết cách hạn chế dư luận thì sẽ giữ được tình yêu bền lâu và đỡ căng thẳng, vì hôn nhân của những cặp đôi này là không vững, họ không có những ràng buộc giống như những cặp đôi bình thường khác. - Những ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý của những đứa con trong gia đình đồng tính. Những đứa trẻ lớn lên trong một gia đình có cha và mẹ là đều là đồng giới, liệu tâm lý của chúng có phát triển bình thường và tích cực như những đứa trẻ lớn lên trong một gia đình bình thường không? Có rất nhiều những nghiên cứu hiện nay trên thế giới về vấn đề này, nhưng chúng ta vẫn chưa thể kết luận chính xác. Vì vậy, thay vì vội vã công nhận hôn nhân đồng giới, thì chúng ta nên có những nghiên cứu về mọi mặt đối với một mô hình hôn nhân đồng giới, rồi mới trả lời rằng chấp nhận hay không chấp nhận. Cái nhìn từ góc độ tôn giáo – truyền thống. 9 “Chúng tôi mạnh mẽ khẳng định rằng hôn nhân là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ…” Đó là lời tuyên bố mạnh mẽ của Đức Tổng Giám Mục Dolan 4 nhằm phản đối quyết định hợp pháp hôn nhân đồng tính của Tiểu Bang New York. Thánh Kinh đã ghi lại, ngay từ thuở xa xưa khi mới tạo dựng đất trời, Thiên Chúa đã dựng nên con người có nam và có nữ Adam và Eva Ngài đã tác thành cho họ để trở nên vợ chồng, và xây dựng một khung hình sinh hoạt mang tính cộng đồng đầu tiên của nhân loại. Cấu trúc của gia đình, theo đó, là sự kết hợp chặt chẽ và vững bền giữa một người nam và một người nữ. Sự kết hợp này phản ảnh xã hội tính, giới tính, nhu cầu tâm sinh lý, và nhu cầu bảo tồn nòi giống. Từ mô hình này, vai trò làm chồng, vai trò làm vợ, vai trò làm cha, vai trò làm mẹ, vai trò làm con, làm anh, chị, em… được thành hình và truyền thụ cho đến ngày nay. Nó cũng là bước khởi đầu cho một mô hình xã hội phát xuất từ hôn nhân giữa người nam và người nữ. Ý niệm về hôn nhân và gia đình đã vươn rộng đưa đến mô hình đại gia đình, bao gồm nhiều thế hệ của một dòng tộc. Ảnh hưởng này đã đâm rễ sâu trong sinh hoạt xã hội theo văn hóa Á Đông mà điển hình là Việt Nam. Tuy ngày nay quan niệm và ảnh hưởng đại gia đình đang được thay thế bằng quan niệm và ảnh hưởng tiểu gia đình dựa theo đà phát triển kinh tế, xã hội, công ăn việc làm…đặc biệt tại các xã hội Tây Phương. Nhưng ảnh hưởng của nó vẫn còn là một ý niệm và nề nếp sinh hoạt nền tảng của xã hội. Chính Thiên Chúa đã kết hợp Adam với Eva. Tình yêu nối kết giữa hai người khắng khít đến độ, cũng theo Thánh Kinh, “vì thế, người nam sẽ từ bỏ cha mẹ mình và luyến ái với vợ mình. Và cả hai trở nên một” 5 . Từ ngữ người nam, 4 Đức Hồng Y Timothy Dolan, Tổng giám mục New York. 5 Sáng Thế, 223-24 10 [...]... cha, mẹ là những từ ngữ đã làm nên ý nghĩa và định nghĩa của hôn nhân ngay từ nguyên thủy Quan điểm đầu tiên nhắm vào những lý luận và cuộc sống đồng tính và hôn nhân đồng tính cho rằng, đồng tính và hôn nhân đồng tính phải được thừa nhận và phải được coi như ngang hàng với hôn nhân căn bản giữa người nam và người nữ Nhưng dù có những lý luận và giải thích cách này hay cách khác của con người, Thánh... kết hợp giữa một người nam và một người nữ Hình thức hôn nhân này không chỉ được nhìn thấy qua các nền văn hóa của nhân loại, dù dưới chế độ phụ hệ hay mẫu hệ, hoặc ngay cả trong chế độ đa thê trước đây Do đó - Hôn nhân đồng tính không trả lời được đòi hỏi của Thiên Chúa về sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ - Hôn nhân đồng tính không giải thích được lý do tại sao từ ban đầu Thiên Chúa... thuộc những nước không có luật chống TDĐG nhưng cũng không có luật chống kỳ thị và văn bản của Luật Hôn nhân gia đình không có điều khoản nào cho phép hôn nhân đồng giới Tuy nhiên, trên thực tế đã từng có kết hôn cùng giới được nói đến trên phương tiện thông tin đại chúng 13 Kết quả khảo sát về sự chấp nhận của cộng đồng với TDĐG trả lời câu hỏi xã hội có chấp nhận TDĐG không? thì tỷ lệ đồng ý trong... Máccô, 106 Sáng Thế, 128 11 - Hôn nhân đồng tính cũng không trả lời được mệnh lệnh Thiên Chúa khi Ngài truyền dậy những người bước vào đời sống hôn nhân “Hãy sinh sản ra nhiều mặt đất”.8 Ngày 09/01/2012, Đức Thánh Cha đã lên tiếng cảnh báo Hôn nhân đồng tính là một trong nhiều mối đe dọa cho cơ cấu gia đình theo truyền thống, và làm tổn hại đến “chính tương lai của nhân loại” Đức Thánh Cha đã mạnh... Không những Thánh Kinh nói về nền tảng hôn nhân một vợ, một chồng giữa người nam và người nữ, nó còn cho ta biết về một mục đích khác nữa của hôn nhân là để sinh sản con cái Thiên Chúa đã nói với Adam và Eva “Hãy sinh sản ra nhiều trên mặt đất”.7 Hôn nhân là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ” Hôn nhân dưới ánh sáng Lời Chúa là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ Hình thức hôn. .. TDĐG nhưng chỉ áp dụng với nam Úc không có luật chống TDĐG; có luật chống kỳ thị ở tất cả các bang Hôn nhân đồng giới còn bị cấm ở một số vùng Nam Úc và Victoria C KẾT LUẬN VẤN ĐỀ Từ các luận điểm đã nêu trong bài viết, cùng với những số liệu cụ thể đã thống kê tại phần 2 và 5; xét thấy, chúng ta chưa cần thiết phải đưa quy định kết hôn đồng giới vào trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam trong thời... Cha đã mạnh mẽ đưa ra những nhận định chống lại thứ Hôn nhân đồng tính trong bài diễn văn ngỏ cùng các phái đoàn ngoại giao quy tụ tại Vatican vào dịp đầu năm mới Trong bài diễn văn đầu năm mới 2012, Đức Thánh Cha Bê-nê-đíc-tô 9 đã lên tiếng cảnh báo Hôn nhân Đồng tính là một trong những mối đe dọa cho cơ cấu gia đình truyền thống Ngài nói “Gia đình không chỉ đơn thuần là một khế ước xã hội, nhưng hơn... đồng tính nam liệu có đảm bảo được điều này không? Điều này có làm ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai của nhân loại không? 5 Pháp luật của những quốc gia và dư luận xã hội trên thế giới chưa tán thành kết hôn đồng giới - Châu Phi Trong số 51 nước được khảo sát thì 23 nước có luật chống TDĐG Tình dục đồng giới nhưng 8 nước chỉ áp dụng với nam; 18 nước không có luật Hình phạt với những người có hành... Emirat thống nhất, Yemen Hầu hết các nước châu Á không có luật chống kỳ thị người TDĐG, trừ Hong Kong, Philippine, Nhật và Israel ngay cả trong quân đội nước này cũng không kỳ thị Ở Campuchia, quốc vương Norodom Sihanouk đã kêu gọi hợp pháp hoá hôn nhân đồng giới Trung Quốc cũng đang xem xét lại luật hôn nhân Afghanistan vẫn coi TDĐG là tội hình sự nhưng không còn áp dụng tội tử hình nữa sau khi chính... thái độ với xu hướng tình dục Hiến pháp chống lại sự kỳ thị các xu hướng tính dục và toà án tối cao cho phép hôn nhân đồng giới từ năm 2006 Luật chống lại sự kỳ thị về xu hướng tính dục trong tuyển chọn lao động hầu hết các nước Phi châu không có luật này, trừ Namibia có từ 1992 và Nam Phi Về tỷ lệ cộng đồng chấp nhận và không chấp nhận hành vi TDĐG thì Kenya đứng đầu chỉ có 1% dân số chấp nhận . của hôn nhân ngay từ nguyên thủy. Quan điểm đầu tiên nhắm vào những lý luận và cuộc sống đồng tính và hôn nhân đồng tính cho rằng, đồng tính và hôn nhân. chấp nhận hôn nhân đồng giới, thì chúng ta sẽ phải định nghĩa lại hôn nhân là gì? Mục đích của hôn nhân? chức năng của hôn nhân? Gia đình đồng giới - Xem thêm -Xem thêm Tiểu luận Hôn nhân đồng tính, Tiểu luận Hôn nhân đồng tính, , Định nghĩa về đồng tính luyến ái và hơn nhân đồng giới. 2 Số liệu thống kê tỷ lệ người đồng tính. 3 Pháp luật và dư luận Việt Nam về vấn đề này. 4, Định nghĩa về đồng tính luyến ái và hơn nhân đồng giới., Số liệu thống kê tỷ lệ người đồng tính.
Hỏi Nghiên Cứu Khoa Học Về đồng Tính - Nhờ các bạn và mọi người tư vấn, giải đáp giúp đỡ mình vấn đề trên hiện mình đang chưa tìm được hướng giúp mình. Nghiên cứu — Thư viện LGBT Đây là nghiên cứu khoa học đầu tiên trong nước sử dụng phương pháp hỗn hợp để tìm hiểu và sáng lập một thang đo lường về sự tự kì thị ở cộng đồng LGBTIQ+ trẻ. Nghiên cứu này cung cấp một cái nhìn sâu Chi Tiết Please leave your comments here Bạn có những câu hỏi hoặc những thắc mắc cần mọi người trợ giúp hay giúp đỡ hãy gửi câu hỏi và vấn đề đó cho chúng tôi. Để chúng tôi gửi vấn đề mà bạn đang gặp phải tới mọi người cùng tham gia đóng gop ý kiếm giúp bạn... Gửi Câu hỏi & Ý kiến đóng góp » Có thể bạn quan tâm Video mới Câu hỏi Nghiên Cứu Khoa Học Về đồng Tính quý đọc giả quan tâm nhiều được Chúng tôi tư vấn, giải đáp bạn tham khảo - FAQs Tôi muốn các bạn tư vấn trực tiếp về Nghiên Cứu Khoa Học Về đồng Tính có được không. Hay các bạn chỉ hỗ trợ trả lời qua địa chỉ E-mail, ứng dụng chat trực tuyến? Chúng tôi hỗ trợ tất cả đọc giả từ qua các kênh liên lạc như gọi điện trực tiếp qua số Hotline Từ 7h đến 23h tất cả các ngày trong tuần, E-mail, Thư fax nhanh hoặc các ứng dụng live chát online sẽ có tổ tư vấn trực ca trả lời và trao đổi vấn đề bạn cần hỗ trợ về Nghiên Cứu Khoa Học Về đồng Tính. Khi tư vấn về Nghiên Cứu Khoa Học Về đồng Tính chúng tôi có phải gửi giấy tờ và thông tin gì cho các bạn không. Khi cần vấn đề liên quan đến thủ tục hành chính thì các bạn cần trao đổi rõ đang vướng gì, thủ tục gì để từ đó các bạn tư vấn sẽ đưa ra hướng giải quyết giúp bạn tiếp kiểm thời gian xử lý tủ tục Gửi cho chúng tôi ảnh hoặc bản photo copy. Còn đối với câu hỏi tư vấn thông thường thì các bạn chỉ cần trao đổi trực tiếp không cần gửi bất kỳ thông tin gì cho các tư vấn viên. Đặc biệt thông tin cá nhân như Thông tin cá nhân quan trọng tài khoản ngân hàng, ... và đặc biệt chúng tôi không thu bất kỳ khoản phí nào liên quan đến tư vấn. Tránh một số đơn vị lợi dụng tin tưởng của các bạn dành cho chúng tôi. Họ mạo danh chúng tôi để thu các khoản phí hỗ trợ tư vấn chuộc lợi cá nhân. Khi nào câu hỏi nào về Nghiên Cứu Khoa Học Về đồng Tính thì các bạn hỗ trợ trả lời và tư vấn? Tất cả câu hỏi Nghiên Cứu Khoa Học Về đồng Tính mà bạn đang không có hướng giải quyết hoặc cần tham khảo thêm hướng xử lý hay liên hệ với chúng tôi với đội ngũ chuyên gia giàu kinh nhiệm tư vấn giúp bạn để bạn có câu trả lời phù hợp nhất với vấn đề bạn đang gặp phải
TTCT - Đồng tính luyến ái homosexual có nguồn gốc từ sinh học di truyền hay môi trường và văn hóa? Câu hỏi tưởng đơn giản mà tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc cho nghiên cứu, nhưng câu trả lời vẫn chưa có và chưa thuyết phục. Nghiên cứu mới nhất và lớn nhất thế giới cho rằng đã khám phá 5 “vùng gene” có liên quan đến đồng tính luyến ái, nhưng tôi nghĩ kết quả này thực ra nói lên rằng xu hướng đồng tính luyến ái không phải do di truyền. Hầu như tất cả chúng ta đều có bạn hay biết người đồng tính luyến ái ĐTLA. Tôi cũng có một số bạn là người ĐTLA, một thành viên trong lab nghiên cứu của tôi là người ĐTLA và rất có tài. Ngoài tài năng trong nghệ thuật và ẩm thực, cộng đồng ĐTLA có khá nhiều người thành đạt trong xã hội. Chẳng hạn, cựu chánh án tòa án tối cao của Úc Michael Kirby và cựu viện trưởng Viện đại học Macquarie là người ĐTLA. Trong chính trường Úc, có hơn 20 dân biểu hoặc bộ trưởng là người ĐTLA. Dù thỉnh thoảng bị kỳ thị nhưng nói chung họ được cộng đồng kính nể vì tài năng trong nghệ thuật, kinh doanh và viễn kiến chính trị. Một lịch sử tìm kiếm câu trả lời ĐTLA tương đối phổ biến trong cộng đồng. Nghiên cứu trên thế giới cho thấy cứ 100 người trong cộng đồng thì có chừng 5-10 người là ĐTLA 1. Tỉ lệ này ở nữ giới là 2-4%. Tỉ lệ khác biệt giữa các nghiên cứu chủ yếu là do khác biệt về định nghĩa thế nào là ĐTLA, và do người tham gia nghiên cứu có “khai báo” thành thật hay không. Tại các quốc gia với văn hóa “bảo thủ” ở châu Á, tỉ lệ ĐTLA có vẻ thấp hơn các nước phương Tây. Nhưng nếu làm nghiên cứu khách quan và chính xác thì có lẽ tỉ lệ ĐTLA giữa các quốc gia có thể sẽ không khác nhau nhiều. Giả thuyết về ảnh hưởng của gene đến xu hướng ĐTLA đã được đặt ra từ hơn 20 năm trước. Phương cách dễ nhất và khoa học nhất để biết được mức độ ảnh hưởng của yếu tố di truyền đến một đặc tính sinh học là xem xét những cặp song sinh. Có hai nhóm song sinh nhóm MZ, mà trong đó hai người có 100% gene giống y chang nhau, và nhóm DZ với hai người “chia sẻ” 50% gene. Do đó, nếu ĐTLA trong nhóm MZ nhiều hơn nhóm DZ thì đó là chứng cứ cho thấy có sự ảnh hưởng của yếu tố di truyền gene. Trong một công trình nghiên cứu nổi tiếng, hai tác giả Bailey và Pillard ước tính rằng trong nhóm MZ, khi một người là ĐTLA thì xác suất người song sinh cũng ĐTLA là 52%; trong nhóm DZ, xác suất này là 22%. Kết quả này nhất quán với sự ảnh hưởng của gene đến xu hướng ĐTLA. Họ ước tính thêm rằng các di truyền tố giải thích khoảng 31% đến 74% những khác biệt giữa các cá nhân về xu hướng ĐTLA 2. Sau khi đã “chứng minh” rằng xu hướng ĐTLA là một phần do yếu tố di truyền quyết định, câu hỏi kế tiếp là gene nào. Đây là một câu hỏi đơn giản, nhưng câu trả lời thì không hề đơn giản. Xác định trong số khoảng gene và khoảng 2 triệu biến thể gene polymorphism có liên quan đến ĐTLA là một công việc được ví von là “mò kim đáy biển”’. Tuy nhiên, trong thời gian qua đã có nhiều nhóm nghiên cứu trên thế giới tìm những gene mà họ hi vọng có thể giúp giải thích tại sao người ta có xu hướng trở nên ĐTLA. Một trong những phát hiện gene làm phấn chấn cộng đồng nghiên cứu về ĐTLA được công bố vào đầu thập niên 1990. Qua nghiên cứu trên 40 cặp song sinh dạng DZ, nhóm nghiên cứu của Dean Hamer tuyên bố rằng họ đã phát hiện “gay gene”. Trong số 40 cặp song sinh, họ phát hiện 33 cặp “chia sẻ” vùng gene có tên là Xq28 3. Bởi vì xác suất mà hai người của một cặp song sinh DZ hay hai anh em có cùng gene là 50%, trong khi đó ở nghiên cứu này, xác suất này lên đến 82% 33/40, nên đây là một phát hiện có ý nghĩa. Nhưng vùng gene này có đến 4 triệu cặp mẫu tự base pairs, nên việc xác định chính xác mẫu tự nào có liên quan đến ĐTLA vẫn là một thách thức khoa học. Do đó, nhiều nghiên cứu sau này khó lặp lại kết quả của nhóm Hamer. Thay vì tập trung vào một gene đơn lẻ, một cách khác để tìm gene là rà soát toàn bộ nhiễm sắc thể, còn gọi là “genomewide association study” GWA để phát hiện xem vùng gene nào có thể có liên quan đến ĐTLA. Phương pháp GWA đòi hỏi phải có cỡ mẫu lớn và chi phí cao, và đòi hỏi phải có hợp tác quốc tế với nhiều chuyên gia từ nhiều chuyên ngành khác nhau. Minh họa của Time Nên hiểu thế nào về nghiên cứu mới nhất ? Năm ngoái, một nhóm nghiên cứu Mỹ, Úc và Anh đã ứng dụng phương pháp GWA để tìm gene có liên quan đến ĐTLA và kết quả của họ đã được công bố trong một hội nghị di truyền học ở Mỹ. Kết quả này mới được chính thức công bố trên tập san khoa học lừng danh Science vào tuần qua 4. Để hiểu kết quả nghiên cứu đó, tôi cần phải mô tả một số chi tiết chính về cách các nhà nghiên cứu đã thực hiện. Họ dùng dữ liệu của Dự án UKBiobank và của Công ty di truyền học “23andMe”. Tổng số cỡ mẫu nghiên cứu lên đến người. Họ định nghĩa ĐTLA bằng cách hỏi đối tượng tham gia nghiên cứu. Chẳng hạn, họ hỏi đối tượng nghiên cứu là “có quan hệ tình dục” với người đồng giới tính hay không, sau đó họ hỏi thêm về những mơ tưởng mang tính dục tính sexual fantasy của đối tượng nghiên cứu mà họ nghĩ là có xu hướng ĐTLA. Nói cách khác, cách nhóm nghiên cứu định nghĩa và xác định ai là ĐTLA không mang tính khoa học cao, vì chẳng có xét nghiệm sinh học nào cả. Kết quả phân tích trên hơn 1 triệu biến thể gene, nhóm nghiên cứu phát hiện 5 vùng gene thuật ngữ di truyền gọi là “loci” trong hệ gene có liên quan đến xu hướng ĐTLA theo cách họ xác định như mô tả trên. Nói đúng ra là không hẳn là “vùng gene”’ mà là 5 biến thể SNP. Trong số 5 vùng gene này, có 2 vùng cho cả nam và nữ, 2 vùng chỉ phát hiện ở nam giới, và 1 vùng chỉ ở nữ giới 4. Điều thú vị là 2 trong số 5 vùng gene đó từng được biết là có liên quan đến hormone sinh dục và khứu giác. Hai yếu tố này, hormone sinh dục và khứu giác, làm cho người ta cảm thấy hấp dẫn với nhau. Kết quả nghiên cứu này tuy được công bố trên tập san Science nhưng giới nghiên cứu di truyền học trên thế giới không… ấn tượng. Lý do là vì cách thức mà nhóm nghiên cứu định nghĩa ĐTLA là thiếu tính khoa học và có phần không thỏa đáng, bởi vì không có xét nghiệm hormone thì rất khó nói những gì đối tượng nghiên cứu “khai báo” có hợp lý hay không. Khi xem xét kỹ kết quả nghiên cứu, có vài dữ liệu rất khó diễn giải. Chẳng hạn như SNP số rs34730029 phát hiện ở nam giới hiện diện trong 94% dân số - một tần số cao một cách bất thường. Nhưng cả 5 vùng gene này cũng giải thích không đầy 1% những khác biệt về xu hướng ĐTLA. Nói cách khác, những gene phát hiện không thể giúp nhà nghiên cứu tiên lượng ai là ĐTLA hay không ĐTLA. Nói cách khác nữa, chẳng có gene ĐTLA nào cả. Nếu kết quả này đúng thì ý nghĩa là xu hướng ĐTLA không phải hiện hữu từ lúc còn trong bụng mẹ hay mới sinh ra. Nếu xu hướng ĐTLA không phải do yếu tố sinh học, câu hỏi kế tiếp là tại sao người ta trở nên ĐTLA? Câu trả lời là do môi trường và văn hóa. Trung tâm nghiên cứu tâm lý Kinsey từng quan sát rằng có không ít cặp vợ chồng ăn ở với nhau, có con, nhưng sau này thì một trong hai người trở nên ĐTLA 5. Thậm chí, một số người quan sát rằng chuyên ngành tiếp viên hàng không là kỹ nghệ thu hút nhiều người ĐTLA nam giới 6 nhưng xu hướng này không có nghĩa là làm việc trong môi trường hàng không là nguyên nhân của ĐTLA. Dĩ nhiên, cũng không loại trừ một số người tự chọn trở thành ĐTLA. Ngay từ thập niên 1960 đã có nhiều giả thuyết giải thích tại sao người ta trở nên ĐTLA. Các giả thuyết này nhấn mạnh đến các yếu tố môi trường xã hội trong giai đoạn đứa trẻ đang phát triển, sự ảnh hưởng của cha mẹ, và sự gắn bó với cha hay mẹ. Đáng chú ý trong các nghiên cứu này là quan sát của nhà tâm lý học Irving Bieber, khi ông phát hiện qua phân tích thống kê rằng ở nam giới, những người trưởng thành “bình thường” nhưng sau này lớn lên trở thành ĐTLA, trước đó thường có quyến luyến với mẹ hơn là với cha 7. Kết quả nghiên cứu này được lặp lại bởi các nhóm nghiên cứu khác. Chẳng hạn như một nghiên cứu vào giữa thập niên 1960 phát hiện rằng gần 70% những người đàn ông ĐTLA gần gũi và gắn bó với mẹ, và khoảng 1/3 không thân thiện với cha 7. Tóm lại, nghiên cứu khoa học mới nhất tuyên bố rằng không có gene ĐTLA, và điều này nói lên rằng xu hướng ĐTLA không phải có ngay từ lúc mới sinh ra. Nhiều nghiên cứu trong quá khứ nói lên rằng xu hướng ĐTLA chủ yếu do các yếu tố môi trường xã hội và đặc biệt là sự gắn bó của nam giới với mẹ. Tags Đồng tính luyến áiHomosexualGay geneVùng geneNghiên cứu gay gene
Trần Ngọc Hiếu “Một cộng đồng chỉ được coi là thiểu số khi nó tiềm ẩn những đe dọa nào tới số đông còn lại, dù thực hay tưởng tượng. Và hãy nhớ, không có mối đe dọa nào là hoàn toàn không có thực cả…Người thiểu số cũng là người, con người, chứ không phải thiên thần”. Christopher Ísherwood1 Văn học đồng tính queer literature là gì? Là văn học được viết bởi các tác giả đồng tính? Là các tác phẩm lấy đời sống của người đồng tính làm đề tài? Là tác phẩm đề cập, khắc họa hình tượng nhân vật đồng tính? Văn học đồng tính được xác lập nhờ một lối viết đặc biệt hay đó còn là dòng văn học được hình thành bởi tưởng tượng của một cách đọc đặc biệt? Đó những câu hỏi dường như chối từ những khẳng định quả quyết. Bởi lẽ đồng tính – như một căn cước giới tính bị xem là thiểu số – luôn phải đối diện với những định kiến, luôn có khả năng bị gây tổn thương – thường phải tìm đến những hình thức ngụy trang để tự biểu hiện; như một kiến tạo của diễn ngôn, đồng tính là một thứ diễn ngôn bị trấn áp, luôn bị ngoại biên hóa trong lịch sử văn hóa, nó thường là một tiếng nói bị khuất lấp, bị phân mảnh; như một tập hợp các ký hiệu trình hiện representation, đó lại là một tập hợp các cái biểu đạt không cố định, không chặt, trôi nổi, tùy thuộc vào các ngữ cảnh văn hóa-lịch sử. Văn học đồng tính ở Việt Nam có diện mạo như thế nào, có đặc điểm gì? Với câu hỏi này, tính phức tạp còn tăng lên nhiều lần. Thứ nhất, sự mô tả người đồng tính trong lịch sử thuộc về phần vi lịch sử micro-history, một thứ tiểu tự sự tồn tại dưới hình thức các mảnh vỡ, các vết tích cần đến nhiều nỗ lực khảo cổ, khớp nối, nhất là trong tình trạng các tư liệu lịch sử ở ta còn manh mún. Thứ hai, không thể mô tả diện mạo văn học đồng tính như thực thể biệt lập với các thực hành văn hóa khác ngôn ngữ, tôn giáo, thời trang, nghệ thuật, văn hóa đại chúng, truyền thông,… Ở đó, người đồng tính vừa tự đánh dấu, vừa bị đánh dấu bởi các biệt ngữ, vừa lợi dụng, vừa bị lợi dụng bởi các hoạt động biểu hành trong đời sống để biểu hiện mình. Thứ ba, viết và đọc văn học đồng tính ở Việt Nam có điểm gì khác biệt trong việc biểu hiện phái tính so với loại hình nghệ thuật khác; ngôn ngữ tạo ra những thuận lợi đồng thời gây ra những trở ngại gì trong việc thể hiện và tiếp nhận hình tượng người đồng tính? Thứ tư, ý nghĩa của việc đọc/ phê bình đồng tính queer reading/ queer criticism trong ngữ cảnh Việt Nam là gì là công khai hóa những mã giới tính vốn thường chìm trong các văn bản, là bóc trần những lớp vỏ ngụy trang cho tâm lý sợ đồng tính homophobia, là một động thái gắn kết phê bình văn học với các hoạt động xã hội đấu tranh cho quyền của người đồng tính đang diễn ra khá sôi nổi gần đây; là việc tìm kiếm một khuynh hướng, một “gu” thẩm mỹ riêng, nếu có, của dòng văn học này? Với bài viết này, những câu hỏi đặt ra ở trên chưa thể tìm được câu trả lời thấu đáo ngay. Một cách thẳng thắn, những gì trình bày ở đây, trước hết, giống như một tổng thuật về lịch sử của dòng văn học đồng tính ở Việt Nam, từ những hình thức ngụy trang trong lịch sử đến các tự thuật công khai thú nhận giới tính hiện nay. Mặt khác, bài viết còn đưa ra một dự phóng để suy nghĩ xa hơn về văn học đồng tính nhằm giải phóng hình dung về dòng văn học này như một “ghetto” của một cộng đồng thiểu số. Từ lý thuyết đồng tính queer theory đến văn học đồng tính ở Việt Nam trong lịch sử Thực ra dịch “queer theory” là lý thuyết đồng tính có lẽ là cách dịch còn hẹp nghĩa. Bởi mối quan tâm của lý thuyết này không chỉ giới hạn trong phạm vi vấn đề đồng tính. Nói như Eve Kosofy Sedgwick, một học giả hàng đầu của lý thuyết này, thì “queer” có thể quy chiếu tới “một mạng lưới mở của những khả thể, những kẽ hở, những sự chồng chéo, những cộng hưởng và xung đột, những sai lẫn và những thái quá về ý nghĩa khi những thành tố cấu thành phái tính của bất cứ ai, khuynh hướng tình dục của bất cứ ai không phải/ không thể là những cái biểu đạt nguyên khối”2. Một cách ngắn gọn, từ “queer” hàm chứa trong nó tập hợp các biểu hiện cho thấy giới tính là một ý niệm thuộc thể lỏng hơn là một khối rắn chắc, xác định, đóng kín. Sự hình thành thuyết đồng tính như một dòng mạch tư tưởng trước hết có liên hệ mật thiết với các phong trào chính trị – xã hội đấu tranh cho quyền bình đẳng của người đồng tính, mà sự kiện thường được dẫn ra như mốc quan trọng nhất là cuộc nổi loạn của những người đồng tính tại quán bar Stonewall, thành phố New York, nước Mỹ năm 1969. Stonewall khi đó được biết đến như một quán bar dành cho cộng đồng gay, đặc biệt là dân gay ở tầng lớp dưới đáy xã hội như những người đồng tính vô gia cư, mại dâm nam, những người thích ăn mặc giả gái,… Vụ đụng độ giữa những người đồng tính với cảnh sát này được ví như sự phát động đầu tiên cho những hoạt động của phong trào giải phóng giới đồng tính diễn ra sau đó, bắt đầu từ Mỹ. Lý thuyết đồng tính được xem như điểm tựa tư tưởng của phong trào này. Ở phương diện này, sự xuất hiện của lý thuyết đồng tính có được sự cộng hưởng tinh thần với các lý thuyết khác như nữ quyền luận, phê bình chủng tộc/ sắc tộc, hậu thực dân luận,… Chúng phản ánh khúc ngoặt của lý thuyết văn hóa/ văn học từ cuối thập niên 60 thế kỷ trước hướng đến cái ngoại biên của văn hóa, hướng đến các bộ phận thiểu số, chất vấn tính hợp thức của các khung tri thức được xác lập bởi ý thức hệ thống trị. Thuyết đồng tính cho đến giờ vẫn là một dòng mạch lý thuyết phát triển năng động, quy tụ nhiều nhà tư tưởng, nhiều học giả mà những kiến giải của họ về giới, về tình dục thực chất còn ảnh hưởng rất mạnh đến sự hình thành kiểu tư duy phê phán mới. Đầu tiên phải nhắc đến Michel Foucault với công trình có ý nghĩa nền tảng cho lý thuyết đồng tính – bộ ba History of Sexuality Lịch sử tính dục. Tính đột phá của công trình này nằm ở chỗ Foucault đã giải phóng tính dục, giới tính ra khỏi quan điểm bản chất luận, tự nhiên luận, theo đó, ông cho rằng giới tính, tính dục là ý niệm được tạo lập bởi các diễn ngôn. “Tác phẩm của Foucault quan trọng vì nó cho thấy tính dục không đơn giản là sự biểu hiện tự nhiên của một động cơ hay ham muốn bên trong nào đó. Các diễn ngôn về tính dục liên quan đến sự vận hành của quyền lực trong các mối quan hệ người cũng như chúng chi phối sự tạo lập bản sắc cá nhân. Bằng việc nhấn mạnh đến những cách thức mà tính dục được viết lên/ viết vào thân thể, những cách làm cho tình dục đồng tính trở thành sự vô hình hay hữu hình về văn hóa, Foucault đã bắt đầu phá vỡ ý niệm về tính dục như một dữ kiện đời sống trong suốt”3. Sau Foucault, có thể nhắc đến nhiều học giả tầm cỡ khác như Judith Butler, Eve Kosofy Sedgwick, Lee Edelman, Ann Cvetkovich, Michael Warner,…; mỗi người lại tiếp cận vấn đề “queer” một cách khác nhau và phát triển tư tưởng rất phức tạp. Nên ở một mức độ nào đó, có thể hình dung “queer theory” hiện nay đang tồn tại ở dạng số nhiều “queer theories”. Chúng còn móc nối với những chủ điểm nghiên cứu khác như chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc, phê bình sinh thái,… Có lẽ điểm mấu chốt chung nhất ở các thực hành của các học giả chuyên sâu về thuyết đồng tính là “gỡ hành vi tính dục sex acts ra khỏi bản sắc của phái tính gender identity”, từ đó chứng minh “tính dục về bản chất không phải là một đặc điểm cá nhân mà là một phạm trù văn hóa có sẵn”4. Judith Butler và Eve Kosofy Sedgwick sẽ phát triển xa hơn luận đề của Foucault cho rằng giới tính, tính dục mang tính diễn ngôn khi họ thống nhất với nhau ở quan điểm giới tính, tính dục là các diễn ngôn biểu hành “Người ta không sinh ra là đàn bà, đàn ông hay đồng tính người ta trở thành đàn bà, đàn ông hay đồng tính chỉ trong ngữ cảnh sự trình diễn, biểu hành hay không trình diễn, biểu hành những hành vi nhất định nào đó. Đồng tính không gọi tên một trạng thái tồn tại nó biểu thị một hữu thể being thực hiện một số hành vi nhất định nào đó, kẻ được nhận diện và được phân loại bằng những phạm trù xã hội hơn là những thuộc tính bản chất”5. Anh thuộc giới nào, theo đó, không phải được xác định theo những bản chất được mặc định là “trời cho”, “sinh ra đã thế” mà điều này phụ thuộc vào việc anh làm gì, anh biểu hành, anh trình diễn những hành vi gì và như thế nào trong những ngữ cảnh văn hóa cụ thể. Đến đây, có thể thấy, thuyết đồng tính không chỉ đơn giản nhằm biện hộ cho quyền của người đồng tính. Đồng tính có thể xem như một ý niệm ở giữa, một khoảng không gian thứ ba, từ đó, cho thấy những đối lập nhị nguyên về phái tính thực chất rất bất ổn. Nếu đồng tính nói riêng, phái tính nói chung đều là những quy ước diễn ngôn thì cũng có thể tạo ra sự kháng cự ngay trong bản thân diễn ngôn, có thể phá vỡ những quy ước, những thương thỏa này để xác lập một không gian tự do hơn, rộng rãi hơn, linh hoạt hơn và độ lượng hơn cho mỗi chủ thể. Thuyết đồng tính, cũng như nhiều lý thuyết văn hóa đương đại, trong khi tưởng như làm lung lay những phạm trù nền tảng, kiên cố vốn tạo nên trật tự và sự thống nhất của bức tranh thế giới, thực ra lại tạo ra những đường thoát, những kẽ hở để con người tự giải phóng mình, tự xác lập giá trị tự thân, thay đổi tương quan quyền lực trong các mối quan hệ người, trong quan hệ giữa con người với thế giới. Đấy là lý do vì sao lại có xu hướng “queering” tạm dịch là “làm rối”/ “làm nhiễu” từ nhãn quan đồng tính luận các phạm trù khác như dân tộc, chủng tộc, tự nhiên,… Trở thành “queer” như thế cũng có thể hiểu trở thành một cái gì đó có khả năng phản tư, chất vấn trước các ý niệm, giá trị tưởng như đã được mặc định yên ổn, được coi là bình thường hay chuẩn mực. Tóm lại, nếu bản thân “queer”, và rộng hơn là “phái tính”, là những phạm trù biểu hành, là những “vai diễn” trong những ngữ cảnh văn hóa cụ thể thì văn học đồng tính là một ý niệm mang đặc tính của thể lỏng. Nhưng thực ra thì ngay cả các ý niệm như văn học nữ hay văn học nam giới cũng không xác định, không rõ ràng hơn văn học đồng tính là bao nhiêu. Bài viết này đề xuất một định nghĩa “lỏng” về văn học đồng tính đó không phải là dòng văn học được xác lập bởi một nhóm tác giả đặc thù hay xoay quay những nhân vật có độ nhiễu về bản sắc giới tính. Văn học đồng tính nên được xem như một dải phổ của những biểu hiện về tình trạng mơ hồ và xu hướng lệch chuẩn về giới tính, thân thể, tình dục vốn rất đa dạng, phức tạp từ quan hệ luyến ái đồng giới, hiện tượng giả nam/ giả nữ, hiện tượng bị thiến, hiện tượng đổi vai “giới” trong nghệ thuật tự sự, các hình thức ngụy trang giới tính,… Một dòng văn học đồng tính ở Việt Nam, nếu được hiểu như trên, trước hết, cần phải được khảo sát từ trong văn học dân gian, nơi văn học tồn tại trong trạng thái nguyên hợp với các hình thái folklore khác như tín ngưỡng, hội hè, sân khấu dân gian,… – những hình thái mang tính chất trình diễn rõ nét, tạo điều kiện thuận lợi cho các hành vi bộc lộ, đảo trang hay vượt rào giới tính. Một sinh hoạt như lên đồng trong Đạo Mẫu cho thấy tín ngưỡng dân gian không chỉ có thể hiểu như một hình thức cho phép sự hoán vị, vượt rào giới tính diễn ra công khai, mà cần được xem như một không gian nơi các chủ thể “queer” đoạt quyền lực của mình, vượt lên những kỳ thị, trấn áp diễn ra đối với họ trong không gian thường nhật và ngay trong ngôn ngữ thường nhật. Một vở chèo như Quan Âm Thị Kính có thể được diễn giải như một dụ ngôn về khả năng nhiễu của những cái biểu đạt giới tính và bi kịch của vở diễn bắt nguồn từ độ nhiễu ấy. Văn học trung đại Việt Nam được hình thành dưới ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo, một học thuyết tư tưởng lấy nam giới làm trung tâm. Tư tưởng nam quyền vô hình hóa, ngoại vi hóa các giới tính khác một tích truyện như Lưu Bình – Dương Lễ cho thấy rõ phụ nữ bị làm rỗng, bị công cụ hóa để tôn vinh đạo lý tình bạn giữa những người đàn ông trong xã hội phong kiến. Đương nhiên, đồng tính cũng sẽ bị ngoại vi hóa, bị đè nén trong ngữ cảnh văn hóa như vậy. Chỉ có điều như Tạ Chí Đại Trường trong nghiên cứu rất công phu của mình – Sex và triều đại – cho thấy, sự bất thường về giới tính trong các xã hội phương Đông chỉ được nhìn nhận như một hiện tượng gây tò mò, ngạc nhiên và cùng lắm là bị chế giễu, nhạo báng chứ không phải là một tội lỗi như ở các xã hội phương Tây6. Văn học đồng tính Việt Nam thời trung đại có thể được chú ý ở hai phương diện kiểu tác giả và sự thể hiện hình ảnh người đồng tính, chuyển giới, bị thiến hoạn. Ở phương diện thứ nhất, Tạ Chí Đại Trường đã có những phân tích rất thú vị về một hiện tượng khá phổ biến trong văn học Việt Nam từ thế kỷ XVIII các tác giả nhà nho “núp bóng đàn bà”, nhập vào vai nữ để ký thác tâm sự trong các tác phẩm của Đặng Trần Côn, Phan Huy Ích, Nguyễn Gia Thiều,… Tạ Chí Đại Trường gọi đây là hiện tượng “nhà nho lại cái”, một hiện tượng được hình thành trên những cơ sở văn hóa – lịch sử những áp lực từ tầng lớp xuất thân, từ hệ thống kiến thức ngoại lai mà nho sĩ phải tiếp thu, địa vị thường có xu hướng bị ngoại biên hóa trong cấu trúc xã hội, bối cảnh loạn lạc của thời đại, sự trấn áp của đạo đức Nho giáo,… Tất cả điều này khiến cho các nhà nho phải tìm đến một phương thức để giải tỏa ẩn ức. Tạ Chí Đại Trường nhận xét “Sự biến hình, dù trong tâm tưởng, và vô ý thức, cũng đã có nguyên nhân từ sự đè nén của quyền lực chính trị, của đạo lý đã bóp mềm con người… Dạng hình mượn làm người nữ phối hợp với sự yếu mềm về tâm tính, đủ cho sự giả trang của nho thần che mắt được quyền lực bên trên”7. Chắc hẳn sẽ còn cần phải thảo luận liệu hiện tượng nhập vai nữ để tự sự này có thể xem như là chuyển vị nhục cảm đồng tính vào trong nghệ thuật ngôn từ hay chưa trên thực tế, Cung oán ngâm hay Chinh phụ ngâm đều có những câu thơ đẫm chất nhục cảm, thể hiện những cung bậc mãnh liệt của dục vọng, của thân xác hay đơn giản chúng ta chỉ nên thận trọng coi đây là một kỹ thuật tự sự. Nhìn rộng ra, cũng phải xem hình thức thác lời bằng cách “chuyển giới” tưởng tượng này trong mối liên hệ với một đề tài khá phổ biến trong thơ ca cổ điển là đề tài “khuê oán”, trong đó các tác giả xuất sắc nhất của mảng đề tài này chủ yếu là các nhà thơ nam. Nhưng hiện tượng “nhà nho lại cái” cho phép ta chứng thực ngay một điều khi nam giới trở thành trung tâm của ý thức hệ, nó không chỉ ngoại vi hóa, vô hình hóa, tạo nên những trấn áp đối với những giới tính khác, ý niệm nam tính còn trấn áp, đè nén chính bản thân của người đàn ông. “Queer” trong tư duy tự sự trung đại có thể được xếp vào phạm trù “kỳ”, được hiểu như là “cái lạ thường”, “cái kỳ lạ”,… Sự xuất hiện của những kẻ có biểu hiện bất thường về giới tính thường được mô tả gắn liền với những biến cố bất an của xã hội. Theo khảo sát của Nguyễn Thanh Tùng, các hình tượng nữ được miêu tả theo hướng nam hóa xuất hiện nhiều hơn xu hướng ngược lại – nam bị nữ hóa8. Một ghi chép về hình tượng Bà Triệu trong sáchGiao Chỉ ký do Tăng Cổn, một quan chức ở Giao Châu thế kỷ IX viết, sau này được chép lại trong Đại Việt sử ký toàn thư, có thể được xem như là một cách mô tả “queer” hóa “Trong núi ở quận Cửu Chân có người con gái em họ Triệu, vú dài 3 thước không lấy chồng, họp đảng cướp bóc các huyện trong quận, thường mặc áo ngắn Bắc Vàng đi guốc gỗ, ngồi đầu voi đánh nhau, sau chết làm thần”9. Bà Triệu được tái hiện ở đây như là một hình tượng dị kỳ không chỉ ở kích thước được phóng đại quá cỡ của bầu vú mà ở các biểu hiện nam hóa lồ lộ thông qua các hành vi vốn được mặc định là đặc quyền của nam giới và đặc biệt ở việc “không lấy chồng” – một sự lệch chuẩn khỏi khuôn khổ của phụ nữ rất khó chấp nhận được từ ý thức hệ Nho giáo. Trường hợp nam bị nữ hóa còn lại được một ghi chép trong sử sách là câu chuyện về An Vương Tuân, con cả của vua Lê Hiến Tông. Sách Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn ghi rằng An Vương Tuân vốn là người thông minh học rộng, sức lực hơn người nhưng tính khí nóng nảy, ngang bướng, đặc biệt lại thích mặc áo của phụ nữ, từng có âm mưu dùng thuốc để đầu độc chính mẹ mình và do đó không được lựa chọn làm người nối ngôi10. Tạ Chí Đại Trường đã phân tích cách Lê Quý Đôn kể câu chuyện về An Vương Tuân để đi đến một nhận xét sâu sắc “Lời của Lê Quý Đôn làm nổi sự hả hê của một người thấy có kẻ trở về với Chính giáo sửa bỏ nết cũ, thờ mẹ rất hiếu’. Nhưng khi sử gia vô tình dùng ngôn từ kinh sách “giữ mình kín đáo” để chứng tỏ thêm sự đắc thắng của đạo lý thì đồng thời cũng cho chúng ta hiểu được nỗi khổ tâm của một con người lạc loài với giới tính xác định vốn có từ trong căn bản mà phải bị đàn áp, nén sâu”11. Tóm lại, khi văn học trung đại với ý thức hệ Nho giáo định vị người đàn ông ở trung tâm thì đồng thời nó cũng nảy sinh các diễn ngôn kháng cự trong lòng nó. Đó là các diễn ngôn có xu hướng “queer” hóa trong thơ văn của các nhà nho lại cái, chúng mềm hóa ý niệm về nam tính theo lý tưởng Nho giáo. Nhưng nếu xem xét cách thể hiện hình tượng bất thường giới tính trong văn chương trung đại thì ta lại thấy rõ định kiến vẫn bị dồn về phía phụ nữ. Văn học hiện đại với sự mở cửa cho ý thức cá nhân được công khai tự biểu hiện. Môi cảnh xã hội được hiện đại hóa dưới ảnh hưởng của văn minh phương Tây, dẫu vậy, vẫn tồn tại những rào cản buộc các chủ thể đồng tính phải tìm đến các hình thức ngụy trang cho những dục cảm của mình. Bước đầu đã có những nghiên cứu đáng chú ý về cơ chế và các hình thức ngụy trang và chuyển vị dục cảm đồng tính trong sáng tác của Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, thậm chí ở cả những người tù cộng sản được ghi lại trong hồi ký của Trần Huy Liệu12. Ở đây, chúng tôi xin dừng lại để thảo luận sâu hơn về trường hợp Xuân Diệu, vừa như một tác giả đồng tính, vừa như đối tượng “queer” được tái hiện qua diễn ngôn của kẻ khác hồi ký Tô Hoài, các giai thoại văn chương. Trên thực tế, chưa thể nói Xuân Diệu là nhà thơ “come-out” tự giác trong sáng tác của mình. Dục cảm đồng tính trong thơ Xuân Diệu phải tự “chuyển vị” mượn chữ của Nguyễn Quốc Vinh, phải ngụy trang dưới nhiều biểu hiện khác nhau chuyển vị qua một đối tượng khác, gắn với một không gian khác trường hợp điển hình là bài thơ “Tình trai”, qua các ám thị, các biểu tượng con thú hoang, bờ cát,… hay qua trạng thái tự si, tự mê chính bản thân mình13. Có hai điều đáng nói ở đây thứ nhất, hình thức ngụy trang giới tính trong thơ Xuân Diệu bị quy định bởi chính ý thức hệ lãng mạn của nhà thơ. Dục cảm đồng tính trong thơ Xuân Diệu nghiêng về sự ngưỡng vọng thân thể nam giới, nghiêng về những đồng điệu tinh thần, nó e dè, thậm chí sợ hãi tình dục, xem tình dục như là nhân tố có khả năng hủy hoại thân thể, dẫn đến tình trạng con người thù ghét, xa lạ với thân thể của chính mình. Trong truyện ngắn Thân thể, Xuân Diệu đã mượn lời nhân vật Khuông – một người đàn ông đã có vợ nói với các bạn nam thanh niên “Ồ? Các em bé của tôi thèm khát đến thế sao? Tội nghiệp. Các em còn mới mẻ thực. Thân thể! ôi thân thể của chúng ta! Tôi đã giết hắn đã rõ lắm rồi… Ta nghĩ cái thú toại thịt là thú của thiên đường, ta mong được lên đến từng trời thứ bảy; ta ao ước, khao khát, thèm thuồng, van xin; chỉ vì các anh chưa được nếm một cái quả, nên các anh chảy nước miếng, các anh ăn trước bằng tưởng tượng. Nhưng hai tuần, một tháng sau khi đã bước bước đầu! Đê vỡ hẳn, nước trào ào, không ai gìn giữ nữa. Ta vồ lấy thú vui, như mất trí. Tôi biết một người chi tiêu trọn cái thanh niên của họ trong hai tháng mà thôi”14. Ở đây, cần nói thêm định kiến về tình dục, xem nhục cảm như là thứ tiềm tàng khả năng gây tha hóa là một định kiến phổ biến trong thơ lãng mạn. Ta có thể kiểm chứng điều này trong thơ của Vũ Hoàng Chương chẳng hạn. Thứ hai, nhiều bài thơ ngụy trang xúc cảm đồng tính của Xuân Diệu tinh vi đến mức nhà phê bình nếu không dựa vào những giai thoại bên ngoài văn bản sẽ không phát hiện ra15. Điều này đặt ra vấn đề cần phải suy ngẫm tính hợp thức của phê bình văn học đồng tính là gì? Phải chăng phê bình văn học đồng tính luôn cần phải tiền giả định một chủ thể sáng tác có vấn đề về bản sắc giới tính? Phê bình văn học đồng tính có khi nào giống như một hành vi thám tử truy tìm những chứng cứ trong và ngoài văn bản văn chương để phát lộ bí mật về giới tính mà nhà văn cố tìm cách che đậy nó bằng những ký hiệu ngôn từ vốn khó trực quan hơn các nghệ thuật có yếu tố thị giác? Phê bình văn học đồng tính, trong trường hợp này, đứng trên một lằn ranh mong manh giữa mục đích khám phá cơ chế tâm lý sáng tạo của tác giả trong đó sự nhận thức về giới tính là một nhân tố quan trọng với nguy cơ làm tổn thương chính những tác giả? Bản thân Xuân Diệu cũng là đối tượng được tái hiện trong các tự sự khác về đề tài đồng tính. Có thể giai thoại về giới tính của nhà thơ đã ngấm ngầm rò rỉ từ lâu nhưng nó chỉ được chính thức được ghi chép lại lần đầu trong hồi ký Cát bụi chân ai của Tô Hoài. Qua câu chuyện về giới tính của Xuân Diệu mà Tô Hoài kể lại, có thể thấy phản ứng khá phổ biến của xã hội đương thời và có lẽ cho đến bây giờ cũng vẫn vậy về đồng tính 1/ đồng tính là thứ khiến người ta sợ hãi, né tránh như một thứ bệnh dị kỳ “Hằng đêm Xuân Diệu hay sang giường các bạn trai của ông để tỏ tình âu yếm. Các bạn của ông ấy rất sợ, vì vậy, cứ đêm đêm, họ lại tỵ nạn sang nhà khác, không ai dám ở chung với Xuân Diệu”16; 2/ đồng tính như một tình trạng khiến bản thân mình phải thấy xấu hổ nỗi hổ thẹn bắt nguồn từ chỗ cá nhân bị bóc trần bí mật của mình trước đám đông, cái riêng tư của bản thân bị công cộng hóa. Việc Xuân Diệu phải viết bản kiểm điểm cho những hành vi bộc lộ ham muốn nhục cảm của mình, về bản chất, đồng dạng với cơ chế phạt vạ phụ nữ chửa hoang trong xã hội cũ ở cả hai trường hợp, bí mật của cá nhân bị rêu rao, bị công khai để thỏa mãn cảm xúc cộng đồng, thỏa mãn niềm say mê thị uy quyền lực và phán xét của đám đông; 3/ điều này không được ghi công khai trong Cát bụi chân ai, do đồng tính là thứ đáng xấu hổ thế nên nó có thể phương hại đến quyền lực việc Huy Cận sinh thời đã phản đối gay gắt Tô Hoài khi ông cho đăng dài kỳ hồi kýCát bụi chân ai trên báo Tiền Phong17. Nhưng không chỉ Huy Cận mà nhiều người cũng nghĩ hồi ký của Tô Hoài có phần bất nhẫn khi kể lại câu chuyện của Xuân Diệu. Bởi Xuân Diệu vốn đã được tôn vinh như một hình tượng điển phạm trong văn học Việt Nam với danh xưng “ông hoàng của thơ tình”. Người ta phản ứng với hồi ký của Tô Hoài có lẽ xuất phát từ tâm lý e sợ điển phạm lung lay, bởi một mặc định trong nhận thức rằng tình yêu, như là đối tượng của thơ tình, dứt khoát phải là tình yêu dị tính. Vì như thế, tình yêu ấy mới có sức phổ quát. Và ngay cả những phê bình biện hộ cho tình cảm đồng tính trong thơ Xuân Diệu cũng bị ám ảnh bởi tính phổ quát. Những cách đọc ấy vừa chỉ ra bằng chứng khó chối cãi được về sự hiên diện của những dục cảm đồng tính trong thơ Xuân Diệu, vừa khẳng định theo tinh thần đại khái rằng nếu thơ tình Xuân Diệu là “tình trai” thì tình trai cũng là tình yêu thôi, mà tình yêu đích thực đâu có phân biệt tình cảm dị giới hay đồng giới. Song liệu biện hộ như thế đã thỏa đáng? Cá nhân người viết bài này khi đọc Cát bụi chân ai của Tô Hoài không nghĩ tác giả bất nhẫn với người bạn văn đã quá cố, không thể nói lại được nữa. Câu chuyện về Xuân Diệu cho ta thấy nỗi khổ sở, cay đắng của con người một thời khi muốn sống cái phần cá nhân nhất, riêng tư nhất của mình. Sẽ có ý nghĩa hơn nếu như từ đây, ta có thể so sánh Xuân Diệu với các nhà thơ đồng tính trong các xã hội cộng sản trước đây để thấy rõ hơn mối quan hệ giữa đồng tính và chính trị ở một giai đoạn lịch sử đặc biệt. Văn học đồng tính Việt Nam đương đại – Văn học tự thú? Nhìn lại dòng mạch văn học đồng tính ở Việt Nam trong lịch sử, tự thú dường như là nội dung quan trọng nhất. Đến mức người ta có thể nghĩ văn học đồng tính ở Việt Nam là văn học tự thú. Nhất là khi quan sát văn học đồng tính Việt Nam đương đại. Điều đáng nói là tự thú trong văn học đồng tính Việt Nam đương đại diễn ra trong một bối cảnh đã cởi mở hơn nhiều. Trong bộ phim ca nhạc ăn khách Những nụ hôn rực rỡ 2010, ở cảnh kết, diễn viên Tô Lâm, một người đồng tính ngoài đời, đã có màn tự thú thật về giới tính trong một bộ phim hư cấu. Trên các chương trình thực tế được khán giả Việt Nam chú ý, người ta thường xuyên chứng kiến nhân vật tham gia giới thiệu mình như là người thuộc thế giới thứ ba một cách tự nhiên, thậm chí sự xuất hiện của họ còn là nhân tố tạo cho cái gọi là “thực tế” truyền hình có thêm “kịch tính” – điều mà khán giả thường chờ đợi. Truyền thông đại chúng vừa tạo ra không gian chính thống để người đồng tính công khai khẳng định giới tính của mình, không cần nép vào tôn giáo để hợp thức hóa giới tính đồng thời, khi biến người đồng tính thành hình ảnh, biên tập hình ảnh ấy theo những áp lực của kiểm duyệt và nhu cầu của thị hiếu đại chúng, truyền thông, đến lượt mình, lại tạo ra một sự trấn áp đối với người đồng tính bằng việc tạo ra những bản kẽm về họ. Nhưng ta sẽ nói đến điều này kỹ hơn ở phần dưới bài viết. Bóng – tự truyện đồng tính của Nguyễn Văn Dũng, do hai nhà báo Đoan Trang và Hoàng Nguyên chấp bút, xuất bản năm 2008 – là tác phẩm mở đầu cho thể loại tự thuật thú nhận công khai về giới tính trong văn học Việt Nam đương đại sau đó có thêm Không lạc loài của Phạm Thành Trung, Lê Anh Hoài chấp bút, Đời callboy của Nguyễn Ngọc Thạch,…. Cuốn sách xuất hiện khi hình ảnh người đồng tính không còn là một cái gì quá xa lạ trên truyền thông đại chúng, nhưng đồng thời hình ảnh ấy cũng thường được lặp lại theo những công thức nhất định, tạo thành những định kiến phổ biến. Trên sâu khấu hài kịch, sự gây cười bởi độ lệch tông được cường điệu trong phương thức biểu hành giới tính dẫn đến sự đóng đinh hình dung về người đồng tính gay tức là ẻo lả, ngoa ngoắt, điệu đà,… Ở điện ảnh và phim truyền hình, người đồng tính muốn được thừa nhận như một giá trị phải sở hữu những thứ quyền lực khác để có thể thao túng kẻ khác thường đó phải là nhân vật sống ở môi trường đô thị, có tiền, có quyền, có tài, có thân thể đẹp, thích gây chú ý,… Trên truyền thông báo chí, người đồng tính gắn liền với những gì thái quá. Chỉ cần đọc nhanh những mẩu tin về các vụ án liên quan đến người đồng tính, ta dễ nhận thấy một cấu trúc tu từ phổ biến, theo đó, đồng tính thường có những cảm xúc tâm lý thái quá, gắn liền những dục vọng mãnh liệt về nhục cảm và bởi thế, đồng tính thường dễ mù quáng, quá khích, dã man. Những bản án dành cho người đồng tính, do vậy, thường ở khung hình phạt rất nặng. Chỉ cần gõ hai từ khóa “đồng tính” và “tử hình” đi đôi với nhau lên Google, kết quả sẽ cho ta một con số đáng suy nghĩ. Phần lớn các vụ án này, theo tường thuật của báo chí, thường xuất phát từ những động cơ tiền bạc và tình dục quá khích, dẫn đến chỗ các án mạng được mô tả theo chiều hướng tăng cấp sự man rợ. Hiện tượng này cũng nên được xem xét như một nguyên nhân dẫn đến sự dai dẳng của tâm lýhomophobia trong xã hội Việt Nam đương đại. Giữa những diễn ngôn phổ biến như vậy về người đồng tính trong văn hóa đại chúng, một tự thuật như Bóng thực sự có ý nghĩa xã hội đáng ghi nhận. Mục đích của cuốn tự thuật, như Nguyễn Văn Dũng tâm sự, là muốn đem đến một nhận thức đúng hơn về người đồng tính đồng tính không phải là một tình trạng bệnh hoạn, không phải một sự lạc loài đáng xấu hổ và buộc phải che đậy cả đời. Một trong những nội dung quan trọng của cuốn sách là việc mô tả quá trình tự ý thức về giới tính của Dũng. Có lẽ đây chính là điều làm Dũng cảm thấy hơi tiếc vì anh không thể trực tiếp dùng lời văn để kể lại đời mình, đặc biệt là diễn biến tâm lý của chính anh. Nhưng câu chuyện của Dũng, ở chừng mực nào đó, có thể làm trực quan cho những luận điểm không dễ nắm bắt của thuyết biểu hành giới tính. Cái gọi là “đàn ông”, “nam tính” trên thực tế là một bảng phân vai gắn liền với những việc phải làm là đàn ông, anh phải đảm nhiệm vai của đứa con trai độc nhất trong nhà, phải có nghĩa vụ kết hôn, có con để nối dõi tông đường; khi đi học, để hòa nhập với đám con trai, anh phải biết chơi những trò được mặc định là dành cho con trai, làm những công việc mà thầy giáo bảo là “việc của đàn ông”; trong một xã hội mà vấn đề an ninh quốc phòng luôn được đề cao, đến mức quốc phòng còn trở thành môn học trong trường phổ thông, làm đàn ông nghĩa là còn phải thực hiện nghĩa vụ quân sự. Đặc biệt, “đàn ông”, như một tính từ thể hiện đẳng cấp, phải được thể hiện qua khả năng chinh phục đàn bà. Chính ở câu chuyện về mối quan hệ giữa Dũng với hai nhân vật nữ tên Hoa và Hương trong cuốn sách, ta có thể thấy được tính chất bạo lực trong diễn ngôn hàng ngày về “đàn ông”, “nam tính”, trong đó, đàn bà được xem như một thứ “vật” mà đàn ông cần phải chiếm đoạt và phô trương để khẳng định đẳng cấp của mình, để được thừa nhận là đàn ông đích thực. Song bên cạnh đó, thì chính mối quan hệ dị giới này thực chất cũng chỉ là hình thức chuyển vị những dục cảm đồng giới, như Dũng thú nhận “Đêm đó, lần đầu tiên trong đời, tôi biết đến cơ thể phụ nữ. Tôi vẫn nhớ cảm giác của mình lúc đó cảm xúc không trọn vẹn, càng về sau tôi mới càng nhận ra rằng sự tò mò nhiều hơn sự ham muốn… Lần ấy đối với tôi thực chỉ là một cách để tôi sĩ diện đem “chiến công” về khoe với những thằng con trai khác, cũng là cách để tôi che giấu cảm giác thèm muốn nam giới của mình”; “Dù vậy, có vẫn hơn không, bởi thâm tâm tôi muốn sở hữu Hương để tự khẳng định mình trước lũ bạn. Như một cách tự khẳng định rằng dứt khoát tôi là một thằng đàn ông…”18 Trong một xã hội dường như sự thành thực, trước hết là thành thực với chính mình, dường như đang khan hiếm thì tự thú của Nguyễn Văn Dũng, hay bất cứ người đồng tính nào qua các phương tiện truyền thông đại chúng, đều có ý nghĩa tích cực nó thể hiện sự can đảm của những người dám sống là chính mình. Tuy nhiên, tự thuật Bóng, thẳng thắn để nhận xét, vẫn không thoát khỏi hệ quy chiếu lấy đàn ông, lấy người dị giới làm trung tâm. Điểm nhìn của cuốn sách, ngay từ chương đầu tiên, đã xác định là điểm nhìn của nạn nhân. Sẽ là bất nhẫn nếu phê bình điều này vì đó là thực tế những gì Dũng và những người đồng tính nếm trải. Nhưng điều quan trọng là nhãn quan nạn nhân ấy mang một màu sắc định mệnh xuyên suốt cuốn tự thuật là ám ảnh của nhân vật tình trạng không có tương lai và sự bất hạnh mà nhân vật coi như số phận của mình cũng là bất hạnh được chiếu từ điểm nhìn của người dị giới, xem cuộc sống được coi là bình thường của người dị giới như là khuôn mẫu của hạnh phúc. Bản thân cuốn tự thuật cũng được kết cấu như một lộ trình mà nhân vật cùng những người đồng tính như anh cố gắng để được xã hội công nhận giá trị. Và giá trị đó là giá trị mà những người dị giới tạo ra “Là người đồng tính nhưng chúng cháu vẫn thực hiện đủ nghĩa vụ của công dân với đất nước. Bản thân cháu đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Rồi chúng cháu cũng vẫn phải làm những công việc nặng nhọc mà xã hội chỉ định cho nam giới…”19 Tự thú đồng tính của Nguyễn Văn Dũng, dù rất ý nghĩa và đáng trân trọng, vẫn là một tự thú nhiều mặc cảm. Và nhìn rộng ra, mặc cảm ấy là điều dễ bắt gặp, dễ phát hiện trong văn chương đồng tính Việt Nam. Dòng văn chương ấy cần thêm sự táo bạo để khiêu khích, để chất vấn các ý niệm bản chất luận về giới tính khiêu khích, chất vấn không phải nhằm đến sự độc tôn theo chiều hướng ngược lại mà để mở ra quan hệ mới, bình đẳng hơn, tôn trọng nhau hơn giữa các chủ thể trong xã hội. Văn học đồng tính ở Việt Nam – Hướng tới một dòng văn học thiểu số Từ chỗ phải kiếm tìm những hình thức ngụy trang để che giấu chình mình đến chỗ tự xác nhận giới tính của mình, chứng minh sự thiểu số của mình cũng bình thường như mọi sự bình thường khác trong đời sống, từ chỗ bị ấn định bởi sự mô tả của kẻ khác vốn nắm giữ quyền lực của bộ phận đa số đến chỗ nỗ lực tìm cách để biểu hiện chính mình, dù còn rất loay hoay, văn học đồng tính ở Việt Nam, nhìn trên bề mặt, đã tiến được một chặng đường đáng kể. Tuy chưa có điều kiện khảo sát kỹ nhưng chúng tôi cho rằng về số lượng, các tác phẩm văn học được xếp vào dòng “queer” hiện nay khá phong phú. Thậm chí đã bắt đầu có những tác giả thực sự bắt đầu đi sâu vào mảng đề tài đồng tính như Bùi Anh Tấn, Vũ Đình Giang,… Có những cuốn sách thật sự ăn khách, gây được sự chú ý của công chúng. Song văn học đồng tính cũng sẽ bế tắc, cạn kiệt nếu như nó chỉ đối xử với đề tài đồng tính như một đề tài ăn khách, chứa yếu tố gây tò mò đến mức thể hiện ngay điều này ở tên tác phẩm như Lạc giới, Điếm trai,… Văn học đồng tính sẽ bất nhẫn với chính đối tượng đặc thù của mình nếu như nó chỉ muốn kể những câu chuyện cảm thương hay bông lơn để chiều chuộng độc giả, trong đó có rất nhiều người chỉ muốn nhìn người đồng tính như những kẻ yếu đuối, cô độc, yếm thế hoặc như những kẻ thái quá, gây cười, gây lố. Văn học đồng tính ở Việt Nam hiện nay, bất chấp diện mạo có vẻ phong phú, lại dễ gây định kiến về tính chất “ghetto” của nó đó là dòng văn học của/về một cộng đồng thiểu số. Nhưng nhận xét trên dường như mâu thuẫn với chính cách đặt vấn đề ở phần này của bài viết. Ý niệm “thiểu số” ở đây được chúng tôi tiếp thu từ Gilles Deleuze và Félix Guattari trong công trình nghiên cứu của hai ông về văn chương của Franz Kafka Kafka – vì một nền văn học thiểu số. Theo đó, văn chương thiểu số không đồng nhất với văn chương của một cộng đồng thiểu số hay được viết bằng một thứ ngôn ngữ thiểu số. Đó là thứ văn chương nằm ngoài dòng chính, nó luôn ở trong quá trình trở thành khác, nó chối từ sự đóng đinh vào những quy phạm mặc định, những định nghĩa hoàn tất, nó làm lung lay độ rắn chắc của những đối lập nhị phân trong ý thức văn hóa, nó làm phát huy sự phong phú, dị biệt vốn có trong ngôn ngữ. Văn chương thiểu số, như thế, rõ ràng là một thứ văn chương “queer”, nếu ta nhớ rằng từ “queer” trong tiếng Anh vốn có nghĩa gốc là sự lệch chuẩn, lệch pha so với những chuẩn mực được kỳ vọng, mong đợi. Thứ văn chương thiểu số ấy, theo Deleuze và Guattari, là thứ văn chương của tương lai. Viết, với Gilles Deleuze, là sự trở thành khác becoming other, là sự khai thông những khả thể khác của sự sống20. Khi viết, người ta trở thành đàn ông, đàn bà nhưng không phải như là những hình mẫu đã mặc định, mà là những đàn-ông-khác, đàn-bà-khác. Suy diễn mệnh đề này của Deleuze, quá trình viết cũng rất có thể là quá trình trở thành “queer” của chủ thể viết. “Queer”, lúc này không còn là một cái gì nhược tiểu, mặc cảm nữa quá trình “queer” hóa giải cấu trúc độ rắn, tính xác định của những ý niệm sẵn có về giới, giải phóng áp lực về giới lên sự viết, lên ngôn ngữ, và rộng hơn, là giải phóng áp lực của các chuẩn mực, các quy phạm, cho phép con người thể nghiệm những gì bên ngoài khuôn khổ thông thường. “Queer” hóa sự viết cũng chính là cách để hình thành chủ thể tự do, những cách biểu đạt tự do. Trở lại với trường hợp văn chương của các “nhà nho lại cái” thế kỷ XVIII. Khi nhập vào vai nữ để giãi bày, tự sự nỗi lòng của mình, họ đã thể nghiệm việc trở thành phụ nữ. Nhưng không phải là phụ nữ theo ý niệm chính thống của Nho giáo mà là một mẫu phụ nữ khác táo bạo, quyết liệt, cá nhân. Điều này cũng gắn với việc họ tìm kiếm những khả năng biểu đạt mới cho thơ Nôm, biến thơ Nôm thành không gian cho phép cất lời những điều mà thơ chữ Hán vốn không sẵn chữ để biểu đạt, biến thơ Nôm thành một thứ “văn học thiểu số” theo đúng nghĩa mà Deleuze giới thuyết. Thơ Nôm bị “queer” hóa, nói theo chữ chúng ta đang dùng, cũng có nghĩa là nó trở nên khoáng đạt hơn, gợi cảm hơn, sắc dục hơn. Và khi các nhà nho “queer” hóa chính họ thì đồng thời sáng tạo của họ cũng tạo ra những kẽ hở để giải tỏa áp lực, định kiến đối với chính bản thân phụ nữ. Xuân Diệu sau này cũng đã “queer” hóa tiếng Việt, tạo ra một lớp ngôn ngữ uyển chuyển, vừa giúp ông bộc lộ dục cảm đồng giới, vừa khéo léo che đậy chứ không vùi dập chúng, nhất là ở thời kỳ nói như Chế Lan Viên Khi đứng riêng tư ta thấy mình xấu hổ. Văn học đồng tính ở Việt Nam đến lúc này thực sự chúng tôi muốn gọi nó là văn học “queer” hơn có lẽ cũng đến lúc phải tự giải phóng những giới hạn của mình. “Queer” không chỉ là một đề tài, một đối tượng ngoại biên cần được nhận thức, mô tả – điều này, tất nhiên, vẫn rất cần thiết trong bối cảnh Việt Nam. Nhưng hoàn toàn có thể đặt vấn đề khác “queer” như một cái nhìn, một lập trường, một thế giới quan không ngừng “tra vấn bất cứ những cái bình thường hay chuẩn mực được mặc định, vốn dĩ không có quyền lực nội tại nào”21. Một thế giới quan như thế thực chất có không ít ưu thế, nó cho phép con người có nhiều lựa chọn hơn. Điều đó cũng có nghĩa là ta tự trao cho ta nhiều tự do hơn. Để sống. Và để sáng tạo. Cũng đã có thể nhận ra một số tác phẩm thể nghiệm một tinh thần “queer” như thế trong văn học Việt Nam đương đại, dẫu chưa thật nhiều. Chúng tôi nghĩ đến trường hợp của Nguyễn Thúy Hằng. Không cần dùng văn chương để ngụy trang dục cảm, cũng không phải viết để tự thú, biện hộ cho mình, Hằng viết bằng một thứ ngôn ngữ có xu hướng trở nên trung tính hóa, trở nên phi trữ tình, phi xác định về thể loại một thứ văn chương hóa lỏng. Ở đó, Hằng, nhân vật của Hằng lãnh đạm và tự tại quan sát mình, quan sát thế giới để thấy tất cả không là một cái gì định hình, rắn chắc. Tất cả đều chỉ là một thứ “bột hư ảo”. Rất đỗi mong manh, rất dễ tan rã nằm giữa một bầy xin lỗi và tái nhợt nằm giữa loại áo choàng phụ nữ cái giường đơn tôi và người phụ nữ ấy bay lên không trung. chạm vào trần nhà, tôi mắc kẹt trên ấy – tôi bị đuổi khỏi chỗ tôi nằm. tôi trở thành trần nhà. người phụ nữ là loài thạch sùng bò lạnh ngắt trên da họ bám vào tôi, ngủ mơ, dai, thật dai… dưới lá ẩm phủ phục chúng tôi nằm hôn nhau lâu rất lâu thân thể lúc ấy mối mọt lúc ấy mủ mục lúc ấy cơn dông từ xa đột ngột trở xám rừng rậm già đi cả rừng rậm mọc thật dày cánh tay khẳng khiu rồi đây chúng tôi chỉ là nhúm bột hư ảo mà thôi22 Không khắc khoải yếm thế về tương lai, Nguyễn Thúy Hằng chỉ lặng nhìn từng khoảnh hiện tại li ti, vụn vỡ, mong manh. Tác phẩm của Hằng nghiệm sinh cái mong manh đó với một tâm thế hiện sinh nhẹ nhõm. Cũng như Xuân Diệu trước kia đã nhìn thấy ở mối tình trai giữa Rimbaud và Verlaine một thái độ hiện sinh bất cần “Không cần mặc cả họ yêu nhau”. Và tinh thần hiện sinh ấy cũng là điều toát lên từ các diễn ngôn lý thuyết đồng tính. Khi Jeffrey Nealon và Susan Searls Giroux khái quát về lý thuyết “queer” bằng luận điểm “Sự thật, thậm chí ngay cả sự thật về giới tính, phụ thuộc vào các hành động, hành vi hơn là ngược lại. Bạn là ai là hệ quả của việc bạn làm gì”23, ta không khỏi nhớ đến mệnh đề nổi tiếng của Jean-Paul Sartre rằng không có bản chất nào có trước hiện hữu. Ý thức hiện sinh ấy, thiết nghĩ, rất cần cho sự giải phóng của văn học đồng tính ở Việt Nam khỏi chính những giới hạn mà nó đang tạo ra và quẩn quanh trong đó. __________________ 1 Cristopher Isherwood Người cô độc, Trần Nguyên dịch, Youth Book & NXB Hội Nhà văn, H., 2012, 2 Tony Purvis “Sexualities”, in Patricia Waugh ed. Literary Theory and Criticism An Oxford Guide, Oxford University Press, 2006, 3 Tony Purvis “Sexualities”, Sđd, 4 Jefrey Nealon, Susan Searls Giroux “Queer”, in The Theory Toolbox Critical Concepts for the Humanities, Arts & Social Sciences, Rowman & Littlefield Publishers, 2003, 5 Jeffrey Nealon, Susan Searls Giroux “Queer”, 6 Tạ Chí Đại Trường Sử Việt đọc vài quyển, Nxb. Văn mới, California, Chúng tôi trích theo bản PDF tại địa chỉ 7 Tạ Chí Đại Trường Sử Việt đọc vài quyển, Sđd, 8 Nguyễn Thanh Tùng, “Hiện tượng biến đổi giới trong văn học trung đại – Một vài nhận xét”, Nguồn 9 Ngô Sĩ Liên Đại Việt sử ký toàn thư, Đào Duy Anh dịch, Trung tâm Văn hóa – Ngôn ngữ Đông Tây & NXB Hồng Bàng, 2012, Có lẽ sự lệch chuẩn mang màu sắc “queer” của hình tượng Bà Triệu qua cách tái hiện của sáchGiao Chỉ ký đã hình thành nên định kiến của các sử gia sau này khi bình luận về nhân vật này. Chỉ cần so sánh với cách sử gia phong kiến đánh giá về Bà Trưng, người được xem là dấy quân khởi nghĩa chống lại nhà Hán để vừa trả nợ nước vừa báo thù nhà, ta có thể thấy rõ định kiến đó. Ngô Thì Sĩ trong sách Đại Việt sử ký tục biên đã bình luận “Chỉ vì chồng mà căm phẫn, em vì chị mà cố gắng, tiết phụ nghĩa nữ ở cả trong một nhà, đó mới là lạ… Từ khi bà Nữ Oa luyện đá vá trời về sau, chỉ có chị em nhà họ Trưng mà thôi. Còn tẹp nhẹp như Triệu Ẩu, Trần Thạc Trinh thì kể làm gì đời Đường Cao Tông, con gái châu mục là Trần Thạc Trinh làm phản, tự xưng là Văn Giai hoàng đế” Ngô Thì Sĩ Đại Việt sử ký tục biên, Trung tâm Văn hóa – Ngôn ngữ Đông Tây & NXB Hồng Bàng, 2012, 10 Lê Quý Đôn Đại Việt thông sử, Ngô Thế Long dịch, NXB Trẻ & NXB Hồng Bàng, 2012, 11 Tạ Chí Đại Trường Sử Việt đọc vài quyển, Sđd, 12 Xin xem Nguyễn Quốc Vinh “Những nhục thể biến dị và các động thái chuyển vị của dục cảm đồng tính trong văn chương Việt Nam từ và về thời Pháp thuộc 1858-1954, tại địa chỉ Đỗ Lai Thúy “Đáp lời con quái Sphinx hay ngọn nguồn sáng tạo thơ Xuân Diệu”, trong Bút pháp của ham muốn, NXB Tri thức, H., 2009. 13 Xem thêmNguyễn Quốc Vinh “Những nhục thể biến dị và các động thái chuyển vị…”, Bđd; Đỗ Lai Thúy “Đáp lời con quái Sphinx hay ngọn nguồn sáng tạo thơ Xuân Diệu”, Sđd. 14 Xuân Diệu Tuyển tập Tập II, NXB Văn học, 1987, 15 Đỗ Lai Thúy “Đáp lời con quái Sphinx hay ngọn nguồn sáng tạo thơ Xuân Diệu”, Sđd, 231, 249. 16 Tô Hoài Cát bụi chân ai, NXB Hội Nhà văn, H., 2000. 17 Dẫn theo Đỗ Lai Thúy “Đáp lời con quái Sphinx hay ngọn nguồn sáng tạo thơ Xuân Diệu”, Sđd, 18 Đoan Trang, Hoàng Nguyên Bóng – tự truyện của một người đồng tính, NXB Văn học, 2008 Tuy nội dung của nó là tự truyện của Nguyễn Văn Dũng nhưng bìa sách lại ghi tên tác giả là Đoan Trang và Hoàng Nguyên. 19 Đoan Trang, Hoàng Nguyên Bóng…, Sđd. 20 Gilles Deleuze, “Literature and Life”, bản dịch tiếng Anh của Daniel W. Smith và Michael A. Greco, in trongCritical Inquiry, Winter, 1997, trang 225-230. Có thể đọc bản dịch sang tiếng Việt của Hải Ngọc tại địa chỉ 21 Claire Colebrook “On the Very Possibility of Queer Theory”, in Chrysanthi Nigianni và Merl Storr ed. Deleuze and Queer Theory, Edinburg University Press, 2009, 22 Nguyễn Thúy Hằng Họ – Bột hư ảo, Nhã Nam & NXB Văn học, 2012. 23 Jefrey Nealon, Susan Searls Giroux “Queer”, Sđd, Nguồn Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 6/2014
nghiên cứu khoa học về đồng tính